Đang xử lý.....

Ứng dụng công nghệ AI trong kỷ nguyên “Vươn mình” tại Việt Nam (Phần 3) - Thực tế phát triển AI tại Việt Nam và một số khuyến nghị hướng đến ứng dụng công nghệ AI lấy con người làm trung tâm trong kỷ nguyên mới  

Công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) đã trở thành một công cụ quan trọng trong việc hỗ trợ và thúc đẩy các quyền cơ bản của con người, bao gồm quyền được bảo vệ (quyền an ninh, bảo vệ khỏi tổn hại và phân biệt đối xử) và quyền được tham gia vào đời sống xã hội (quyền tiếp cận dịch vụ, tham gia chính trị và xã hội). Dựa trên các nguyên tắc đạo đức và nhân quyền, AI có thể tăng cường khả năng tiếp cận bình đẳng, tối ưu hóa dịch vụ và bảo vệ cá nhân, đồng thời giảm thiểu bất bình đẳng.
Thứ Sáu, 19/12/2025 63
|

Công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) đã trở thành một công cụ quan trọng trong việc hỗ trợ và thúc đẩy các quyền cơ bản của con người, bao gồm quyền được bảo vệ (quyền an ninh, bảo vệ khỏi tổn hại và phân biệt đối xử) và quyền được tham gia vào đời sống xã hội (quyền tiếp cận dịch vụ, tham gia chính trị và xã hội). Dựa trên các nguyên tắc đạo đức và nhân quyền, AI có thể tăng cường khả năng tiếp cận bình đẳng, tối ưu hóa dịch vụ và bảo vệ cá nhân, đồng thời giảm thiểu bất bình đẳng.

Thông qua các tài liệu tham khảo và lược dịch, bài viết này sẽ đề cập đến cách ứng dụng công nghệ AI hỗ trợ, thúc đẩy quyền được bảo vệ của con người và đồng thời thúc đẩy quyền được tham gia đời sống xã hội của con người

Công nghệ AI hỗ trợ, thúc đẩy quyền được bảo vệ của con người

•  Phát hiện và phòng ngừa bạo lực, xâm hại. Bảo vệ quyền được sống an toàn, đặc biệt với phụ nữ, trẻ em, người già, người khuyết tật. Công nghệ AI cho phép phân tích hành vi đáng ngờ trong không gian công và mạng xã hội để cảnh báo sớm nguy cơ bạo lực hoặc xâm hại như: Nhận diện giọng nói lo lắng, tiếng hét bất thường (trong nhà hoặc nơi công cộng), Theo dõi hành vi đe dọa trên mạng, phòng ngừa bắt nạt học đường, quấy rối tình dục…

•  Phát hiện vi phạm nhân quyền và tội ác chiến tranh. Hỗ trợ quyền được bảo vệ khỏi bạo lực từ nhà nước hoặc các lực lượng vũ trang, đảm bảo trách nhiệm giải trình. Công nghệ AI giúp phân tích hình ảnh vệ tinh, mạng xã hội, video để ghi nhận bằng chứng về tra tấn, cưỡng bức di dời, tấn công thường dân… Theo dõi các khu vực xung đột để cảnh báo vi phạm luật nhân đạo quốc tế.

•  Bảo vệ quyền bình đẳng và chống phân biệt đối xử. Đảm bảo quyền được đối xử công bằng trong các hệ thống ra quyết định tự động. Công nghệ AI giúp phát hiện thiên vị trong các quyết định tuyển dụng, tín dụng, xét xử. Các cơ quan giám sát thuộc chính phủ hoặc các tổ chức bảo vệ quyền lợi người dân có thể được phép yêu cầu kiểm toán thuật toán nhằm ngăn chặn việc bị loại trừ hoặc bất công do máy móc.

•  Bảo vệ quyền trẻ em trên môi trường số. Bảo vệ quyền trẻ em trước các nguy cơ từ môi trường mạng. Công nghệ AI được dùng để: Phát hiện nội dung lạm dụng tình dục trẻ em trực tuyến, giám sát nội dung độc hại, cờ bạc, tự tử, bạo lực. Đồng thời yêu cầu và giám sát các nền tảng như YouTube, TikTok… áp dụng AI lọc nội dung không phù hợp cho trẻ em.

•  Bảo vệ người bảo vệ nhân quyền và nhà báo. Bảo vệ quyền tự do ngôn luận, quyền được hoạt động xã hội và phản biện. Công nghệ AI có thể phát hiện hành vi theo dõi, do thám (spyware), hoặc các cuộc tấn công mạng cũng như phát hiện các thông tin sai lệch có chủ đích nhằm vào nhà báo, các tổ chức bảo vệ quyền con người và nhà hoạt động nhân quyền.

Công nghệ AI hỗ trợ, thúc đẩy quyền được tham gia đời sống xã hội của con người

•  Thúc đẩy tham gia chính trị và xây dựng chính sách. Mở rộng quyền tham gia vào quản trị đất nước, kể cả những người không thể tham dự trực tiếp. AI hỗ trợ phân tích dữ liệu dư luận để phản ánh tiếng nói và nhu cầu của người dân vào quy trình ra quyết định chính sách như: sử dụng AI để phân tích góp ý công dân với luật, giám sát hiệu quả nghị quyết, phản hồi xã hội. Một số nền tảng “chính phủ số” áp dụng AI để tự động tổng hợp phản ánh, kiến nghị, từ đó tăng cường dân chủ trực tiếp.

•  Tăng khả năng tham gia xã hội cho người khuyết tật và yếu thế. Thúc đẩy quyền hòa nhập cộng đồng và tham gia bình đẳng vào đời sống. AI hỗ trợ giao tiếp, di chuyển, truy cập thông tin cho người khiếm thị, khiếm thính, người khuyết tật vận động, như: AI dịch ngôn ngữ ký hiệu, mô tả hình ảnh cho người mù, hoặc hỗ trợ ra lệnh bằng giọng nói… Những điều này cho phép nâng cao khả năng tự chủ và hòa nhập xã hội thông qua giao tiếp, học tập, giải trí cho người khuyết tật và yếu thế

•  Thúc đẩy văn hóa đối thoại và nhận thức xã hội. Củng cố quyền được biết, được học, được đồng hành với cộng đồng, tăng cường gắn kết xã hội. Công nghệ AI hỗ trợ lan tỏa nội dung giáo dục nhân quyền, bình đẳng giới, chống kỳ thị thông qua nền tảng số. Các hệ thống lọc AI cho phép giúp gợi ý nội dung tích cực, kết nối cộng đồng cùng quan tâm như cộng đồng người dân tộc, phụ nữ…).

•  Hỗ trợ tự do biểu đạt và phản biện xã hội. Thúc đẩy quyền tự do ngôn luận, quyền phản biện, quyền biểu đạt chính kiến. Công nghệ AI giúp tạo nội dung nhanh chóng (viết bài, phụ đề, phiên dịch), mở rộng khả năng chia sẻ quan điểm cho cá nhân, tổ chức xã hội dân sự. Công cụ AI giúp người dân phân tích chính sách, phát hiện bất công, phản biện hiệu quả hơn.

•  Hỗ trợ giáo dục công dân và tham gia kinh tế – xã hội. Củng cố quyền được tham gia lao động, sáng tạo và hưởng lợi từ sự phát triển. Công nghệ AI giúp người dân dễ dàng tiếp cận thông tin nghề nghiệp, đào tạo kỹ năng, nâng cao hiểu biết về pháp luật, quyền lợi xã hội. Hệ thống AI trong chính phủ giúp dự báo nhu cầu lao động, từ đó đề xuất chính sách đào tạo phù hợp cho từng nhóm.

•  Tăng khả năng tổ chức cộng đồng và kết nối xã hội. Tăng cường quyền lập hội, quyền tổ chức và tham gia các phong trào xã hội. Công nghệ AI được sử dụng để kết nối những người có cùng mục tiêu xã hội (tình nguyện, bảo vệ môi trường, bảo vệ quyền phụ nữ...). Các Tổ chức phi chính phủ có thể dùng công cụ AI để quản lý chiến dịch, phân tích tác động chính sách, kết nối mạng lưới hành động.

Các ứng dụng AI thường tập trung vào việc sử dụng dữ liệu thời gian thực và phân tích dự báo để ngăn ngừa vi phạm và thúc đẩy công bằng xã hội. Cách tiếp cận này dựa trên việc xử lý dữ liệu lớn (big data) để dự đoán xu hướng, phát hiện bất thường và tối ưu hóa quy trình, từ đó giảm thiểu rủi ro và đảm bảo tính công bằng trong các lĩnh vực như tư pháp, y tế, giáo dục và kinh doanh.

Chính sách trọng tâm để thúc đẩy công nghệ AI tại Việt Nam

Hiện nay, Việt Nam bắt đầu bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, là kỷ nguyên đột phá, phát triển tăng tốc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đưa quốc gia, dân tộc lên một tầm cao mới, tiến cùng thời đại, phải đột phá đi thẳng vào hiện đại, vào những lĩnh vực công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ số, mà Việt Nam có lợi thế; vào quản trị quốc gia hiện đại trên nền tảng chính phủ số, xã hội số, công dân số, tạo sự phát triển vượt bậc về kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

Trí tuệ nhân tạo AI là một phần không thể thiếu, là công cụ mạnh mẽ để mở rộng phát huy quyền làm chủ cho người dân tham gia vào các hoạt động đời sống, kinh tế và xã hội, đảm bảo sự công bằng, minh bạch, và hiệu quả trong việc thực thi các quyền cơ bản.

Với quan điểm chỉ đạo tại Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo đến năm 2030: Trí tuệ nhân tạo (AI) là một lĩnh vực công nghệ mũi nhọn, đột phá của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, là công nghệ chiến lược góp phần quan trọng tạo bước phát triển đột phá về năng lực sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế tăng trưởng bền vững, góp phần khẳng định vị thế Việt Nam trên trường quốc tế; Phổ cập AI toàn dân, toàn diện, “không ai bị bỏ lại phía sau”; đẩy mạnh phát triển AI hẹp trong các ngành, lĩnh vực; khuyến khích tư duy AI ngay từ đầu (AI first); phát triển nhanh hạ tầng tính toán hiệu năng cao (HPC), hạ tầng dữ liệu và các điều kiện cơ bản khác cho nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm và thương mại hoá; bảo đảm mọi cá nhân, tổ chức được tiếp cận và thụ hưởng lợi ích từ AI; chú trọng đào tạo kỹ sư, chuyên gia AI, kết nối viện-trường-doanh nghiệp; thiết lập cơ chế giám sát, quản trị rủi ro và định kỳ công bố Chỉ số sẵn sàng AI quốc gia nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và niềm tin xã hội….

Tuy nhiên, để hiện thực hóa tiềm năng, quan điểm này, cần thiết lập cơ chế, khung pháp lý mạnh và linh hoạt với ba nguyên tắc cốt lõi: Minh bạch, công bằng, và có thể giải trình là nền tảng bảo vệ quyền con người trong thời đại số hóa hiện nay.

- Xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và khung đánh giá, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật liên quan đến AI, nhằm: tạo hành lang pháp lý thông thoáng đáp ứng yêu cầu thúc đẩy nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI vào cuộc sống; Phát triển và ứng dụng AI lấy con người và doanh nghiệp làm trung tâm, tránh lạm dụng công nghệ và xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân;

- Ban hành hướng dẫn quy tắc đạo đức cho việc triển khai, sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật ngành về AI.

- Xây dựng hạ tầng dữ liệu và hạ tầng tính toán cho nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI. Thúc đẩy chia sẻ dữ liệu phục vụ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI, hình thành các cơ sở dữ liệu dùng chung, chia sẻ, mở để nghiên cứu, phát triển các ứng dụng AI phù hợp cho mọi tầng lớp trong xã hội

- Phát triển hệ sinh thái AI, đầu tư xây dựng, phát triển một số cơ sở giáo dục đại học, trung tâm đào tạo tiên tiến chuyên sâu về AI, triển khai phổ cập kỹ năng cơ bản về ứng dụng AI. Triển khai các hình thức đào tạo ngắn hạn và trung hạn về AI cho sinh viên thuộc các ngành nghề khác nhau, người lao động có nhu cầu chuyển đổi nghề nghiệp. Xây dựng chính sách thu hút nhân tài về AI, xây dựng môi trường làm việc hấp dẫn, hỗ trợ nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo….

- Thúc đẩy ứng dụng AI thông qua gia tăng số lượng các doanh nghiệp triển khai, phát triển và ứng dụng AI nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước. Thúc đẩy các bộ, ngành, địa phương sử dụng các ứng dụng, dịch vụ AI, đặc biệt là ứng dụng AI hẹp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động. Phổ cập ứng dụng AI toàn dân, toàn diện thông qua các ứng dụng AI….

Lời kết

Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc diễn ra song hành với kỷ nguyên số, kỷ nguyên của đổi mới sáng tạo mà tiếng nói chung của nhân loại là “không có gì là không thể”. Chuyển đổi số không đơn thuần là việc ứng dụng công nghệ số vào các hoạt động kinh tế-xã hội, mà còn là quá trình xác lập một phương thức sản xuất mới tiên tiến, hiện đại - “phương thức sản xuất số”, trong đó đặc trưng của lực lượng sản xuất là sự kết hợp hài hòa giữa con người và trí tuệ nhân tạo; dữ liệu trở thành một tài nguyên, trở thành tư liệu sản xuất quan trọng; đồng thời quan hệ sản xuất cũng có những biến đổi sâu sắc, đặc biệt là trong hình thức sở hữu và phân phối tư liệu sản xuất số”.

Việt Nam đang có cơ hội lớn để phát triển AI như một trụ cột trong chuyển đổi số. Tuy nhiên, AI chỉ có ý nghĩa khi phục vụ con người, tôn trọng quyền con người, lấy con người làm trung tâm và được kiểm soát một cách có trách nhiệm thông qua các công cụ pháp lý, tiêu chuẩn…

Người thực hiện

                                                               Lê Việt Hưng

                                       Phòng Dịch vụ số - Cục Chuyển đổi số quốc gia

Tài liệu tham khảo:

https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/the-gioi-van-de-su-kien/-/2018/1102002/quan-tri-toan-cau-ve-tri-tue-nhan-tao--thuc-trang%2C-thach-thuc-va-mot-so-ham-y-chinh-sach.aspx

https://www.undp.org/sites/g/files/zskgke326/files/2023-03/Digital%20Tech%20Report.pdf

https://www.deloitte.com/global/en/Industries/government-public/perspectives/urban-future-with-a-purpose/surveillance-and-predictive-policing-through-ai.html

https://international-review.icrc.org/articles/ai-humanitarian-action-human-rights-ethics-913

https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000381137/PDF/381137eng.pdf.multi

 

 

 

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập: 20
    • Khách Khách 20
    • Thành viên Thành viên 0
    • Tổng lượt truy cập Tổng
    • Tổng số lượt truy cập: 5545583