Thực tế phát triển AI tại Việt Nam
Từ năm 2021, Chính phủ Việt Nam ban hành Quyết định số 127/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Chiến lược quốc gia về phát triển Trí tuệ nhân tạo đến 2030 về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Năm 2024, Quyết định số 1290/QĐ-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) ban hành đưa ra chín nguyên tắc cốt lõi để đảm bảo AI được phát triển và ứng dụng một cách an toàn, có trách nhiệm và phù hợp với đạo đức, đồng thời hạn chế tối đa các ảnh hưởng tiêu cực cho con người và cộng đồng...
Đây có thể nói là nền móng bước đầu định hướng ứng dụng công nghệ AI để triển khai nâng cao hiệu quả các hoạt động trong lĩnh vực hành chính công tại Việt Nam. Sử dụng trợ lý ảo, đặc biệt là chatbot, để hỗ trợ người dân thực hiện các dịch vụ công trực tuyến đã trở thành một yêu cầu mang tính cấp thiết nhằm cải thiện trải nghiệm của người dân khi tiếp cận các dịch vụ công. Một số tỉnh, thành phố lớn như TP.Hồ Chí Minh, đã được tích hợp chatbot vào Cổng dịch vụ công trực tuyến để trả lời các câu hỏi liên quan đến thủ tục đăng ký kinh doanh, giấy phép xây dựng và các dịch vụ công khác. Người dân có thể gửi câu hỏi qua giao diện trực tuyến và nhận được phản hồi tức thì, giảm thiểu thời gian chờ đợi và tăng cường sự tiện lợi. Tại Đà Nẵng, chính quyền thành phố đã triển khai trợ lý ảo trên nền tảng mạng xã hội và ứng dụng điện thoại để hỗ trợ giải đáp các vấn đề liên quan đến đăng ký hộ khẩu, giấy phép kinh doanh và thông tin giao thông. Trợ lý ảo này không chỉ phục vụ người dân mà còn giúp các doanh nghiệp tiếp cận các dịch vụ công một cách nhanh chóng và hiệu quả.
Bên cạnh đó, AI cũng bắt đầu được triển khai tại một số Cổng thông tin của các bộ ngành để hỗ trợ, giải đáp các vấn đề về pháp luật; lấy ý kiến người dân và doanh nghiệp về dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp… như Cổng Pháp luật quốc gia thuộc Bộ Tư pháp, nơi mà mọi phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp, chính quyền địa phương về vướng mắc, bất cập nêu trong văn bản quy phạm pháp luật sẽ được trả lời hoàn toàn trên môi trường số, bảo đảm nhanh chóng, kịp thời….
Mặc dù mang lại nhiều lợi ích, việc triển khai trợ lý ảo trong dịch vụ công hay tại Cổng thông tin các bộ ngành tại Việt Nam cũng đối mặt với không ít thách thức. Một trong những khó khăn lớn nhất là việc đảm bảo độ chính xác và phù hợp của thông tin mà trợ lý ảo cung cấp. Dữ liệu hệ thống cần được cập nhật thường xuyên để phản ánh đúng các quy định và thủ tục mới nhất, tránh gây nhầm lẫn cho người dân.
Sự ra đời của Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đánh dấu một cột mốc quan trọng trong việc phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Khẳng định tầm quan trọng của các lĩnh vực này đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời đặt ra những nhiệm vụ và giải pháp cụ thể để thúc đẩy đột phá trong các lĩnh vực này. Nó cũng tạo điều kiện cho các nhà khoa học, các doanh nghiệp và người dân có thể cùng nhau xây dựng một tương lai sáng sủa và thịnh vượng hơn cho đất nước
Để đồng bộ, thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến AI, Bộ KH&CN đã dự thảo tham mưu trình Thủ tướng Quyết định sửa đổi Quyết định số 127/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Chiến lược quốc gia về phát triển Trí tuệ nhân tạo đến 2030 trong đó AI được xác định là:
- Là một lĩnh vực công nghệ mũi nhọn, đột phá của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, là công nghệ chiến lược góp phần quan trọng tạo bước phát triển đột phá về năng lực sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế tăng trưởng bền vững, góp phần khẳng định vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.
- Nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI phải gắn với các nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; phát huy tối đa tiềm lực doanh nghiệp, viện trường, cộng đồng chuyên gia và nguồn lực quốc tế; khai thác hiệu quả mọi nguồn lực; tiếp thu có chọn lọc, làm chủ và ứng dụng hiệu quả các thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến của thế giới trên nền tảng AI an toàn, minh bạch, có trách nhiệm; tôn trọng quyền con người và bảo vệ dữ liệu cá nhân theo pháp luật Việt Nam, hài hòa thông lệ quốc tế; từng bước củng cố tự chủ, tự cường công nghệ và tiến tới sáng tạo công nghệ mới trong tương lai.
- Phổ cập AI toàn dân, toàn diện, “không ai bị bỏ lại phía sau”; đẩy mạnh phát triển AI hẹp trong các ngành, lĩnh vực; khuyến khích tư duy AI ngay từ đầu (AI first); phát triển nhanh hạ tầng tính toán hiệu năng cao (HPC), hạ tầng dữ liệu và các điều kiện cơ bản khác cho nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm và thương mại hoá; bảo đảm mọi cá nhân, tổ chức được tiếp cận và thụ hưởng lợi ích từ AI; chú trọng đào tạo kỹ sư, chuyên gia AI, kết nối viện-trường-doanh nghiệp; thiết lập cơ chế giám sát, quản trị rủi ro và định kỳ công bố Chỉ số sẵn sàng AI quốc gia nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và niềm tin xã hội.
- Ưu tiên sử dụng ngân sách Nhà nước cho: (i) xây dựng và vận hành HPC phục vụ nghiên cứu, phát triển và hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp phát triển sản phẩm AI; (ii) kiến tạo nền tảng dữ liệu mở và mở dữ liệu; (iii) hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành dùng chung; (iv) khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng AI, đồng thời mở rộng hợp tác công – tư và các quỹ đầu tư quốc tế để huy động thêm nguồn lực xã hội.
- Phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp và sản phẩm AI “Make in Việt Nam” thông qua giải quyết các bài toán lớn, vấn đề thực tiễn của đất nước; từ đó hình thành doanh nghiệp, thương hiệu làm chủ công nghệ - sản phẩm, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu; hoàn thiện môi trường pháp lý, hạ tầng và tài chính để thúc đẩy thử nghiệm, đổi mới sáng tạo và thương mại hoá nhanh các giải pháp AI ưu tiên, định vị Việt Nam thành trung tâm sáng tạo AI của khu vực, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.
Phổ cập AI toàn dân, toàn diện, “không ai bị bỏ lại phía sau”. Một số khuyến nghị trên cơ sở thực tiễn tại Việt Nam
1. Công nghệ AI hỗ trợ con người trong lĩnh vực y tế
• Sử dụng công nghệ AI để hỗ trợ quyền tiếp cận y tế của người dân. Cho phép tăng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng cao, ngay cả ở những nơi thiếu bác sĩ chuyên khoa như bệnh viện các tuyến huyện – xã, vùng cao... Công nghệ AI cho phép chẩn đoán và điều trị sớm, chính xác hơn như: hỗ trợ chẩn đoán hình ảnh (X-quang, MRI, CT scan) với độ chính xác cao, đặc biệt trong các bệnh như ung thư, bệnh tim, lao, đột quỵ. Ngoài ra, AI phân tích triệu chứng, xét nghiệm để gợi ý chẩn đoán hoặc đề xuất phác đồ điều trị cá nhân hóa.
• Chăm sóc y tế từ xa (telemedicine). Giảm khoảng cách địa lý, đặc biệt có ích trong đại dịch và tại vùng thiếu hạ tầng y tế. Công nghệ AI tích hợp vào ứng dụng y tế, chatbot y khoa để tư vấn, kiểm tra triệu chứng, nhắc lịch dùng thuốc. Hỗ trợ chẩn đoán từ xa giữa bác sĩ ở thành phố và bệnh nhân vùng sâu vùng xa.
• Phân tích dữ liệu y tế cộng đồng và dự báo dịch bệnh. Bảo vệ quyền được phòng ngừa bệnh tật, được ứng phó khẩn cấp với dịch. giúp theo dõi, dự đoán và ứng phó với các đợt bùng phát dịch (COVID-19, sốt xuất huyết...).
• Hỗ trợ người khuyết tật và nhóm yếu thế. Đảm bảo nguyên tắc bình đẳng trong tiếp cận y tế, không phân biệt hoàn cảnh cá nhân. Công cụ AI cho phép hỗ trợ chuyển giọng nói thành văn bản, hỗ trợ người khiếm thính, hoặc dùng giao diện điều khiển bằng mắt cho người liệt, dịch đa ngôn ngữ giúp người dân tộc thiểu số vùng cao, người nhập cư tiếp cận dịch vụ y tế bằng tiếng mẹ đẻ
• Cải thiện phân bổ nguồn lực y tế công bằng. Thúc đẩy quyền được chăm sóc sức khỏe toàn diện và công bằng cho mọi người. Công nghệ AI hỗ trợ quản lý bệnh viện, dự đoán nhu cầu sử dụng thiết bị, thuốc men, giường bệnh
2. Công nghệ AI hỗ trợ con người trong lĩnh vực giáo dục
• Cá nhân hóa việc học (personalized learning). Mỗi học sinh có quyền được học theo cách riêng phù hợp với năng lực và hoàn cảnh. Công nghệ AI phân tích năng lực, tốc độ học và kiểu học của từng học sinh để: Gợi ý nội dung phù hợp với trình độ. Cho phép điều chỉnh tốc độ học hoặc cung cấp bài tập tăng cường nếu học sinh bị hổng kiến thức.
• Hỗ trợ người khuyết tật và nhóm yếu thế. Thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho người khuyết tật và học sinh có nhu cầu đặc biệt. Công nghệ AI có thể chuyển văn bản thành giọng nói và ngược lại cho người khiếm thị/ khiếm thính. Đồng thời nhận diện ngữ cảnh để tự động tạo chú thích, ngôn ngữ ký hiệu, hoặc văn bản đơn giản hóa
• Thu hẹp khoảng cách địa lý – Triển khai giáo dục từ xa thông minh. AI có thể trợ giáo dục từ xa, tạo điều kiện cho học sinh ở mọi nơi đều có thể tiếp cận kiến thức, bất kể điều kiện địa lý như: Ghi danh trực tuyến, tự động chấm bài, phản hồi nhanh.Trợ lý ảo (chatbot học tập) hỗ trợ giải thích bài tập, trả lời câu hỏi. Điều này đặc biệt hữu ích trong đại dịch hoặc ở vùng sâu vùng xa ở Việt Nam.
• Phân tích dữ liệu để hỗ trợ chính sách giáo dục công bằng. Công nghệ AI có thể giúp bảo đảm quyền giáo dục được thực hiện công bằng và hiệu quả, không để ai bị bỏ lại phía sau như: Phân tích tỷ lệ phân bố điểm trường dựa trên mật độ dân cư có độ tuổi đi học, tỷ lệ bỏ học, chất lượng trường học, xu hướng học sinh theo vùng miền…. Để từ đó đưa ra chính sách phân bổ nguồn lực, giáo viên, học bổng hợp lý…
• Ngôn ngữ hóa và giáo dục đa văn hóa. Thực hiện quyền tiếp cận giáo dục bằng ngôn ngữ phù hợp với bản sắc văn hóa. Công nghệ AI cho phép dịch ngôn ngữ tự động, tạo nội dung học tập bằng tiếng dân tộc thiểu số hoặc ngôn ngữ bản địa. Chatbot giáo dục đa ngữ giúp học sinh nhập cư, học sinh dân tộc tiếp cận bài học dễ dàng hơn.
• Giáo dục về quyền con người và đạo đức công nghệ. Giúp thế hệ trẻ hiểu và thực thi quyền của mình trong thời đại số. AI có thể được sử dụng để: tạo mô phỏng các tình huống về quyền con người. Dạy đạo đức số và nhận thức về quyền kỹ thuật số trong trường học.
3. Công nghệ AI hỗ trợ con người trong trong tiếp cận thông tin dịch vụ công
• Tự động hóa và tăng hiệu quả cung cấp dịch vụ công. Người dân được tiếp cận dịch vụ công thuận tiện, nhanh chóng, minh bạch, giảm tiêu cực. Công nghệ AI được tích hợp trong các hệ thống cung cấp dịch vụ của chính phủ số có thể giúp xử lý hồ sơ nhanh chóng, giảm thời gian chờ đợi, một số ví dụ như: trợ lý ảo xử lý yêu cầu cấp giấy tờ, tra cứu thông tin, đăng ký khai sinh, hộ khẩu, thuế…Ngoài ra công nghệ AI hỗ trợ phân tích nhu cầu công dân để đề xuất chính sách kịp thời (ví dụ: hỗ trợ xã hội, y tế, an sinh).
• Trợ lý ảo (chatbot) hỗ trợ tiếp cận thông tin 24/7. Mở rộng quyền tiếp cận thông tin cho người dân ở vùng sâu, người khuyết tật, người không rành công nghệ. Công nghệ AI chatbot có thể trả lời câu hỏi về quyền lợi công dân, pháp lý, quy định hành chính. Nhiều chatbot có thể hỗ trợ nhiều ngôn ngữ hoặc chuyển giọng nói thành văn bản.
• Hỗ trợ người khuyết tật và nhóm dễ bị tổn thương. Bảo đảm không ai bị loại trừ khỏi không gian số và dịch vụ công chỉ vì rào cản thể chất hay ngôn ngữ. Công nghệ AI giúp dịch nội dung trang web dịch vụ công sang ngôn ngữ ký hiệu, lời nói, phông chữ dễ đọc. Hệ thống đọc màn hình, mô tả giọng nói cho người khiếm thị hoặc AI chuyển ngữ cho người không nói tiếng phổ thông.
• Tăng cường minh bạch, chống tham nhũng. Người dân có thể thực hiện quyền giám sát và phản biện công khai, góp phần bảo vệ quyền lợi tập thể. Công nghệ AI có thể sử dụng để kiểm soát ngân sách, phân tích bất thường trong chi tiêu công, đấu thầu, cấp phép. Hạn chế, cảnh báo hành vi lạm dụng quyền lực hoặc chi tiêu sai mục đích.
• Tăng cường tiếp cận dữ liệu công mở (open data). Thúc đẩy quyền tiếp cận thông tin và tự do biểu đạt, từ đó tăng tính dân chủ và đối thoại xã hội. Công nghệ AI giúp phân tích và trực quan hóa dữ liệu công để người dân có thể dễ tiếp cận và dễ hiểu. Tuy nhiên, để thực hiện điều này cần chính phủ phải công khai dữ liệu môi trường, y tế, giáo dục, kinh tế… cho báo chí, nhà nghiên cứu và công chúng.
Trong quá trình phát triển của một đất nước, việc đảm bảo được quyền tiếp cận đối với giáo dục, chăm sóc y tế, dịch vụ công là điều bắt buộc đối với bất cứ chính phủ nào trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Công nghệ số nói chung và ứng dụng công nghệ AI nói riêng cung cấp các nền tảng linh hoạt, cá nhân hóa và hiệu quả chi phí giúp vượt qua các rào cản địa lý, kinh tế và xã hội. Chúng sử dụng dữ liệu thời gian thực, phân tích dự báo và tự động hóa, cho phéo mở rộng phạm vi tiếp cận cho các nhóm dễ bị tổn thương, đồng thời thúc đẩy tính bền vững và hiệu quả trong hệ thống công cộng.
Phần sau của bài viết này sẽ giới thiệu tiếp một số lính vực mà ứng dụng công nghệ AI có thể hỗ trợ, bảo vệ con người cũng như một số khuyến nghị chính sách trọng tâm để thúc đẩy công nghệ AI tại Việt Nam
Người thực hiện
Lê Việt Hưng
Phòng Dịch vụ số - Cục Chuyển đổi số quốc gia
Tài liệu tham khảo:
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/the-gioi-van-de-su-kien/-/2018/1102002/quan-tri-toan-cau-ve-tri-tue-nhan-tao--thuc-trang%2C-thach-thuc-va-mot-so-ham-y-chinh-sach.aspx
https://www.undp.org/sites/g/files/zskgke326/files/2023-03/Digital%20Tech%20Report.pdf
https://www.icj.org/wp-content/uploads/2022/05/Digital-Technologies-and-Human-Rights-Briefing-Paper-FINAL-VERSION-May-2022.pdf
https://international-review.icrc.org/articles/ai-humanitarian-action-human-rights-ethics-913
https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000381137/PDF/381137eng.pdf.multi