Đang xử lý.....

Thí điểm 7 cơ chế đặc biệt: Mở đường cho đột phá khoa học, công nghệ và chuyển đổi số  

Nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, nhiều cơ chế, chính sách đặc biệt đã được ban hành theo hướng thí điểm, tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn kéo dài. Trong báo cáo trình bày sáng 18/3 về việc thực hiện các nghị quyết liên quan, Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết Nghị quyết số 193 của Quốc hội, ban hành ngày 19/2, đã cho phép áp dụng một loạt cơ chế đặc thù, tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho giai đoạn phát triển mới.
Thứ Bảy, 12/07/2025 54
|

Một trong những nội dung đáng chú ý là thay đổi cách tiếp cận đối với hoạt động nghiên cứu khoa học. Theo đánh giá của Bộ Khoa học và Công nghệ, lâu nay việc quản lý quá chặt theo hướng né tránh rủi ro đã khiến nhiều thủ tục trở nên phức tạp, dồn trách nhiệm lên các tổ chức nghiên cứu và làm giảm động lực thực hiện các đề tài lớn. Trong khi đó, nghiên cứu vốn là lĩnh vực có mức độ rủi ro cao. Nghị quyết 193 cho phép thí điểm cơ chế khoán chi đối với phần lớn nhiệm vụ nghiên cứu mà không yêu cầu cam kết về kết quả cuối cùng. Nhà nước thực hiện quản lý thông qua đánh giá theo từng giai đoạn để quyết định tiếp tục cấp kinh phí hoặc giao thực hiện các đề tài tiếp theo. Đồng thời, việc cấp kinh phí thông qua cơ chế quỹ được áp dụng; trong trường hợp nghiên cứu không đạt kết quả như dự kiến, tổ chức, cá nhân được miễn trách nhiệm dân sự và không phải hoàn trả kinh phí. Cách tiếp cận này được kỳ vọng sẽ khuyến khích mạnh mẽ tinh thần dấn thân, sáng tạo.

Song song với đó, Nghị quyết mở rộng quyền cho cơ sở nghiên cứu và nhà khoa học trong việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Tùy theo loại hình tổ chức, cơ sở nghiên cứu được sử dụng hoặc sở hữu, có quyền tự quyết đối với kết quả và tài sản hình thành từ nghiên cứu để chủ động thương mại hóa. Người làm nghiên cứu được hưởng tối thiểu 30% giá trị thương mại hóa, đồng thời được tham gia thành lập và điều hành doanh nghiệp. Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, đây là chính sách mạnh nhằm thúc đẩy đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, tạo lợi ích kinh tế – xã hội. Khi thương mại hóa thành công, Nhà nước thu được nguồn thu thuế, tạo việc làm và nâng cao trình độ khoa học, công nghệ quốc gia, qua đó thu hồi gián tiếp các khoản đầu tư cho nghiên cứu.

Nghị quyết cũng cho phép doanh nghiệp được tính các khoản chi cho khoa học, công nghệ ngoài Quỹ khoa học, công nghệ là chi phí hợp lệ, được khấu trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Trước đây, việc giới hạn chi trong phạm vi quỹ đã khiến doanh nghiệp trong nước đầu tư cho nghiên cứu phát triển ở mức thấp hơn nhiều so với các quốc gia khác.

Về hạ tầng số, ngân sách nhà nước sẽ hỗ trợ doanh nghiệp triển khai nhanh mạng 5G trên phạm vi toàn quốc. Mức hỗ trợ tương đương 15% chi phí thiết bị bình quân cho mỗi trạm phát sóng 5G, với điều kiện doanh nghiệp đạt tối thiểu 20.000 trạm được nghiệm thu trước ngày 31/12. Theo Bộ, thông thường mỗi nhà mạng đầu tư khoảng 5.000 trạm mỗi năm; do đó, để đạt mục tiêu cao hơn trong thời gian ngắn cần có sự hỗ trợ của Nhà nước. Chính sách này phù hợp với định hướng coi hạ tầng viễn thông là thành phần nền tảng của hạ tầng số, được ưu tiên phát triển và bảo vệ tương tự như hạ tầng giao thông, năng lượng.

Một điểm mới khác là thí điểm có kiểm soát dịch vụ viễn thông sử dụng công nghệ vệ tinh quỹ đạo tầm thấp. Đây là công nghệ có khả năng phủ sóng băng rộng hiệu quả tại vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo. Để thu hút đầu tư nước ngoài, Nghị quyết cho phép doanh nghiệp có sở hữu nước ngoài tới 100% cung cấp dịch vụ trong khuôn khổ thí điểm, với điều kiện bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia.

Đối với hạ tầng kết nối quốc tế, Nghị quyết quy định chính sách phát triển các tuyến cáp viễn thông biển do doanh nghiệp Việt Nam tham gia góp vốn hoặc làm chủ đầu tư. Các dự án có trạm cập bờ tại Việt Nam được áp dụng trình tự, thủ tục như dự án đầu tư trong nước; đồng thời cho phép chỉ định thầu các gói thầu thuộc dự án trong giai đoạn 2025–2030 nhằm đẩy nhanh tiến độ triển khai.

Việc sử dụng ngân sách trung ương để xây dựng các nền tảng số dùng chung và cho phép chỉ định thầu các dự án chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu dùng chung của bộ, ngành, địa phương cũng được thí điểm. Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, mục tiêu là tạo chuyển biến mạnh trong giai đoạn 2025–2026, xây dựng nhanh các nền tảng làm động lực cho chuyển đổi số những năm tiếp theo.

Trong lĩnh vực bán dẫn, nhà máy chế tạo chip đầu tiên được nghiệm thu đưa vào sản xuất trước ngày 31/12/2030 sẽ được hỗ trợ 30% tổng mức đầu tư, tối đa 10.000 tỷ đồng. Doanh nghiệp trong giai đoạn đầu tư được trích Quỹ khoa học, công nghệ ở mức cao hơn 10% nhưng không quá 20% để xây dựng nhà máy. Theo đánh giá, phát triển nhà máy chế tạo chip là mục tiêu khó nhất trong chiến lược công nghiệp bán dẫn, song có ý nghĩa đặc biệt đối với nghiên cứu, thử nghiệm chip thiết kế trong nước và bảo đảm tự chủ trong sản xuất các loại chip chuyên dùng, nhất là phục vụ quốc phòng, an ninh và đào tạo nhân lực.

Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết đã phối hợp các bộ, ngành xây dựng Nghị định hướng dẫn chi tiết một số điều của Nghị quyết 193; hiện đang hoàn thiện để trình ban hành trong tháng 3. Có thể thấy, việc triển khai đồng bộ 7 cơ chế đặc biệt nêu trên được kỳ vọng tạo bước ngoặt về thể chế, hạ tầng và nguồn lực, góp phần thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phát triển mạnh mẽ, thực chất hơn trong thời gian tới.

Lê Hà Trang

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập: 188
    • Khách Khách 188
    • Thành viên Thành viên 0
    • Tổng lượt truy cập Tổng
    • Tổng số lượt truy cập: 5546050