.png)
Trình bày báo cáo giải trình, tiếp thu và chỉnh lý dự thảo luật, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng cho biết Luật Chuyển đổi số gồm 8 chương, 48 điều, được xây dựng theo mô hình “luật khung”. Theo đó, luật tập trung quy định các nguyên tắc, yêu cầu và định hướng lớn, không đi sâu vào những nội dung thuộc phạm vi điều chỉnh của các luật chuyên ngành, nhưng giữ vai trò điều phối, bảo đảm sự thống nhất trong tổ chức và triển khai chuyển đổi số trên phạm vi cả nước.
Nếu Luật Công nghệ thông tin từng đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn tin học hóa, thì Luật Chuyển đổi số được thiết kế để đáp ứng những yêu cầu mới của thời kỳ dữ liệu số và kinh tế số. Trong bối cảnh kết nối, chia sẻ, tích hợp và vận hành các nền tảng số trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia, việc xây dựng một đạo luật chuyên biệt là yêu cầu tất yếu.
Một trong những nội dung nổi bật của luật là lần đầu tiên luật hóa các khái niệm nền tảng về chuyển đổi số, bao gồm: chuyển đổi số, hệ thống số, dữ liệu số, hạ tầng số, nền tảng số, Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Chính phủ đã tiếp thu, chỉnh lý sâu sắc các định nghĩa này nhằm bảo đảm tính chặt chẽ về mặt khoa học, đồng thời thống nhất cách hiểu trong toàn bộ hệ thống chính trị và cộng đồng doanh nghiệp, người dân. Đây được xem là bước tiến quan trọng để khắc phục tình trạng mỗi nơi hiểu và triển khai theo một cách khác nhau.
Một điểm nhấn đáng chú ý của luật là làm rõ sự khác biệt giữa chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ thông tin. Nếu ứng dụng công nghệ thông tin chỉ dừng lại ở việc đưa hoạt động truyền thống lên môi trường số, thì chuyển đổi số là sự thay đổi căn bản về mô hình vận hành, phương thức quản trị và cách thức cung cấp dịch vụ. Tinh thần “chuyển đổi trước – số hóa sau” được xác định là triết lý cốt lõi của luật, nhấn mạnh yêu cầu cải cách thể chế, quy trình và tư duy trước khi triển khai công nghệ.
Luật cũng quy định rõ các công cụ quản trị vĩ mô, bao gồm Chương trình chuyển đổi số quốc gia, Khung kiến trúc quốc gia số, Khung quản trị dữ liệu, Khung năng lực số và Bộ chỉ số đo lường chuyển đổi số quốc gia. Các công cụ này được coi như cơ chế điều phối trung tâm, giúp Nhà nước theo dõi, đánh giá tiến độ và bảo đảm tính đồng bộ giữa chuyển đổi số ở cấp quốc gia, bộ, ngành và địa phương. Việc luật hóa các khung này nhằm khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, thiếu liên thông, tránh lặp lại tình trạng “mạnh ai nấy làm”.
Liên quan đến thiết kế và kiến trúc hệ thống số, dự thảo luật đã bổ sung các nguyên tắc bắt buộc như “mặc định kết nối, mặc định chia sẻ, mặc định an toàn”. Theo đó, các hệ thống số phải ưu tiên sử dụng điện toán đám mây, nền tảng dùng chung; dữ liệu được khai báo một lần; việc kết nối, chia sẻ giữa các cơ quan nhà nước trở thành yêu cầu mặc định. Đồng thời, an toàn, an ninh mạng phải được tích hợp ngay từ khâu thiết kế. Những nguyên tắc này được đánh giá có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm tính thống nhất, tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả đầu tư.
Đối với các dự án chuyển đổi số mới, chưa có tiền lệ, luật bổ sung cơ chế phát triển thử nghiệm với nguồn kinh phí độc lập và cơ chế lựa chọn đối tác để thử nghiệm giải pháp trước khi triển khai chính thức. Cơ chế này giúp giảm rủi ro, tránh lãng phí ngân sách và tạo điều kiện thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong các lĩnh vực như dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo.
Luật cũng đề cập đến chính sách thu hẹp khoảng cách số, đặc biệt tại vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Nguyên tắc ưu tiên nguồn lực được đặt ra nhằm bảo đảm các khu vực này có hạ tầng đáp ứng được các dịch vụ số thiết yếu như học trực tuyến, khám chữa bệnh từ xa và dịch vụ công trực tuyến. Bên cạnh đó, kinh tế số được xác định là động lực tăng trưởng mới, do đó luật bổ sung cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ứng dụng nền tảng số, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị kinh tế số.
Với việc thông qua Luật Chuyển đổi số, Việt Nam đã thiết lập một khung pháp lý thống nhất cho giai đoạn phát triển mới, nơi dữ liệu, hạ tầng số và nền tảng số trở thành tài sản chiến lược của quốc gia. Đạo luật không chỉ tạo nền tảng cho việc xây dựng Chính phủ số, phát triển kinh tế số và hình thành xã hội số an toàn, bền vững, mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo đảm mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong kỷ nguyên số.
Nguyễn Thanh Dung