Đang xử lý.....

Lấy khoa học công nghệ và chuyển đổi số làm trụ cột đổi mới nông nghiệp và môi trường  

Trong bối cảnh phát triển mới của đất nước, khi yêu cầu về tăng trưởng bền vững, bảo đảm an ninh lương thực, thích ứng biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế ngày càng cao, ngành nông nghiệp và môi trường đứng trước đòi hỏi phải chuyển mình mạnh mẽ. Tại Hội nghị triển khai Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, tổ chức ngày 10/5 tại TP. Bắc Ninh theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đỗ Đức Duy khẳng định: khoa học công nghệ và chuyển đổi số là nền tảng để kiến tạo đột phá cho ngành trong kỷ nguyên mới.
Thứ Ba, 22/07/2025 42
|

Hội nghị được tổ chức nhằm cụ thể hóa các định hướng lớn của Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, cùng các văn bản liên quan như Nghị quyết số 193/2025/QH15 của Quốc hội và Nghị quyết số 71/NQ-CP của Chính phủ. Đây là những cơ sở chính trị, pháp lý quan trọng, xác lập tầm nhìn xuyên suốt về vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đối với sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Phát biểu tại hội nghị, Bộ trưởng Đỗ Đức Duy nhấn mạnh, Nghị quyết 57 đã đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia. Theo ông, đây không chỉ là yếu tố quyết định sự phát triển bền vững mà còn là “thời cơ tốt nhất” để Việt Nam vươn lên trở thành quốc gia phát triển, giàu mạnh và hùng cường. Đối với ngành nông nghiệp và môi trường, yêu cầu này càng trở nên cấp bách khi mô hình sản xuất truyền thống, dựa chủ yếu vào lao động thủ công, chi phí đầu vào cao và giá trị gia tăng thấp, đang dần bộc lộ những hạn chế.

Trong khi đó, các xu hướng mới như nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp đa giá trị, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số ngày càng trở thành định hướng tất yếu. Bộ trưởng cho rằng nếu không thay đổi tư duy và cách làm, ngành nông nghiệp sẽ khó có thể nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh. Ông cũng thẳng thắn chỉ ra thực tế còn tồn tại tình trạng nhiều đề tài nghiên cứu chưa gắn với yêu cầu phát triển thực tiễn, dẫn đến khó thương mại hóa hoặc không có khả năng đưa vào cuộc sống. Đây là một trong những nguyên nhân làm giảm hiệu quả đầu tư cho khoa học công nghệ.

Từ thực tế đó, Bộ trưởng đề xuất từ năm 2026 trở đi, các nhiệm vụ khoa học công nghệ phải được đặt hàng từ thực tiễn, từ doanh nghiệp và từ cơ quan quản lý chuyên ngành. Việc đặt hàng phải xuất phát từ nhu cầu sản xuất, kinh doanh, từ những bài toán cụ thể của thị trường, qua đó bảo đảm các kết quả nghiên cứu có khả năng ứng dụng, thương mại hóa và tạo giá trị gia tăng thực chất.

Ở góc độ địa phương, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh Vương Quốc Tuấn nhấn mạnh, phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong nông nghiệp và môi trường không còn là lựa chọn mà là yêu cầu bắt buộc. Thực hiện các nghị quyết của Trung ương và Chính phủ, Bắc Ninh đang tập trung chuyển đổi mô hình từ sản xuất truyền thống sang nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp thông minh, hướng tới nền nông nghiệp bền vững và thân thiện với môi trường.

Để Nghị quyết 57 thực sự đi vào cuộc sống, Bộ trưởng Đỗ Đức Duy đề xuất một số nhóm giải pháp then chốt. Trước hết là hoàn thiện thể chế, chính sách và cải cách thủ tục hành chính nhằm khơi thông các điểm nghẽn. Theo ông, không được để chính sách trở thành rào cản làm chậm bước tiến của đổi mới sáng tạo. Việc thúc đẩy khoa học công nghệ và chuyển đổi số cần được thực hiện không chỉ trong khu vực công mà còn bao gồm khu vực tư, nhằm huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực trong và ngoài nước.

Bộ trưởng cũng ghi nhận thực tế khu vực tư nhân thời gian qua đã đầu tư mạnh mẽ vào nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong lĩnh vực nông nghiệp, tạo ra giá trị gia tăng lớn. Điều này cho thấy tiềm năng rất lớn nếu có cơ chế, chính sách phù hợp để khuyến khích, đồng hành và hỗ trợ doanh nghiệp.

Một giải pháp quan trọng khác là sắp xếp lại hệ thống tổ chức, bao gồm các đơn vị sự nghiệp và tổ chức khoa học của ngành theo hướng tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, hướng tới tự chủ toàn diện trong nghiên cứu khoa học. Các đơn vị nghiên cứu phải thực sự trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, có năng lực cạnh tranh và khả năng lan tỏa tri thức đến sản xuất và thị trường.

Bên cạnh đó, toàn ngành cần thay đổi toàn diện cách thức đặt hàng và giao nhiệm vụ khoa học công nghệ hằng năm. Nghiên cứu phải xuất phát từ yêu cầu thực tiễn sản xuất, cung cấp giải pháp khoa học công nghệ, sản phẩm phục vụ sản xuất, nâng cao chất lượng, an toàn và giá trị của sản phẩm nông nghiệp. Song song với đó là đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trong toàn ngành và trong bộ, từ khâu xây dựng văn bản đến tổ chức thực hiện trong thực tiễn, bảo đảm mọi hoạt động được số hóa và có khả năng truy xuất toàn diện.

Có thể thấy, trong giai đoạn phát triển mới, khoa học công nghệ và chuyển đổi số không chỉ đóng vai trò hỗ trợ mà trở thành nền tảng cốt lõi cho sự đổi mới của ngành nông nghiệp và môi trường. Khi tư duy quản lý được đổi mới, nhiệm vụ nghiên cứu được đặt hàng từ thực tiễn và thể chế được hoàn thiện theo hướng kiến tạo, ngành sẽ có điều kiện tạo ra những bước đột phá, nâng cao hiệu quả sản xuất, bảo vệ tài nguyên, môi trường và cải thiện chất lượng sống của người dân. Đây chính là con đường tất yếu để nông nghiệp Việt Nam phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới.

Nguyễn Thanh Dung

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập: 206
    • Khách Khách 206
    • Thành viên Thành viên 0
    • Tổng lượt truy cập Tổng
    • Tổng số lượt truy cập: 5546131