Mở đầu:
Qua nghiên cứu hơn 20 tổ chức, quốc gia về xu hướng tập trung nghiên cứu phát triển hạ tầng số cho thấy:
- Các nghiên cứu đều nhấn mạnh tới tầm quan trọng của hạ tầng số trong sự phát triển của nền kinh tế số: “Hạ tầng số (gồm hạ tầng kết nối, truyền tải dữ liệu; hạ tầng lưu trữ dữ liệu và các nền tảng tạo ra giá trị mới/dịch vụ mới từ dữ liệu) là chìa khóa để thực hiện các lợi ích của nền kinh tế số và xã hội số” ;
- Nếu như trước đây hạ tầng viễn thông chỉ là hạ tầng vật lý (hạ tầng cứng - tập hợp thiết bị viễn thông, đường truyền dẫn, mạng viễn thông và công trình viễn thông) phục vụ việc cung cấp dịch vụ viễn thông (gửi, truyền, nhận và xử lý thông tin giữa hai hoặc một nhóm người) thì nay hạ tầng số - hạ tầng thiết yếu, quan trọng để kết nối, tạo lập và duy trì dòng chảy dữ liệu của nền kinh tế số, xã hội số - sẽ bao gồm cả hạ tầng vật lý (hạ tầng viễn thông băng rộng, các trung tâm dữ liệu) và hạ tầng mềm (điện toán đám mây, kết nối IoT) với tốc độ cao, băng rộng nhằm đáp ứng tất cả các nhu cầu của nền kinh tế số, xã hội số.
Nội hàm của hạ tầng số bao gồm:
(1) Hạ tầng viễn thông băng rộng;
(2) Hạ tầng điện toán đám mây;
(3) Hạ tầng kết nối Internet vạn vật
Trong đó:
(1) Hạ tầng viễn thông với kết nối băng thông rộng phổ cập, chất lượng cao
- Hạ tầng viễn thông truyền thống (di động, cố định, vệ tinh): kết nối người với người, phục vụ liên lạc trao đổi thoại, tin nhắn, hình ảnh, tài liệu…
- Tương lai -> phục vụ kết nối dòng chảy dữ liệu; Là nền tảng kết nối cho người dân, DN, cơ quan chính quyền -> phải đảm bảo phục vụ cho mọi nhu cầu với chất lượng cao, giá cả hợp lý
- Bảo đảm đáp ứng được sự bùng nổ của kết nối, dữ liệu
(2) Hạ tầng điện toán đám mây (cloud):
- Hạ tầng IoT -> Hạ tầng thiết lập các kết nối số giữa vạn vật. IoT ở đây là nói đến môi trường kết nối phục vụ chung cho vạn vật, trung lập với tất cả các lớp nền tảng, ứng dụng của các vertical. Tương tự như viễn thông nhưng ở 1 quy mô lớn hơn. Do đó là 1 lớp hạ tầng mới
(3) Hạ tầng kết nối IoT
- Cloud -> Kết nối số là kết nối truyền đưa và xử lý dữ liệu, trung lập, là nền móng cho các nền tảng và dịch vụ số
- Bối cảnh, vai trò trong cách mạng công nghiệp 4.0
Quốc tế
Với sự xuất hiện, ảnh hưởng của cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0), thế giới đang ở điểm đột phá của quá trình chuyển đổi số:
- Trong 2 thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, số lượng người kết nối mạng Internet trên khắp thế giới đã gia tăng từ 350 triệu lên hơn 4 tỷ. Cũng trong khoảng thời gian đó, số lượng người sử dụng điện thoại di động tăng từ 750 triệu lên trên 5 tỷ người. Cùng với xu hướng vạn vật đều kết nối mạng, hơn 90% dữ liệu của nhân loại được tạo ra trong vòng 2 năm trở lại đây. Tốc độ số hóa và cách tân công nghệ mở ra triển vọng mới, mô hình kinh doanh mới, tạo ra giá trị mới.
- Các nghiên cứu cũng chỉ ra, nếu như trước đây các quốc gia phát triển (Mỹ, Liên minh Châu Âu, Trung Quốc) tạo ra các sản phẩm kinh tế số đem lại nhiều giá trị nhất thì giai đoạn tới là thời cơ của các nước đang phát triển, nhất là các quốc gia có lợi thế về dân số trẻ, về kỹ năng sử dụng/ứng dụng công nghệ,…, trong đó Việt Nam, với gần 100 triệu dân và lực lượng doanh nghiệp công nghệ số đông đảo, có khả năng nắm bắt và làm chủ công nghệ nhanh. được đánh giá là một trong những nước có tiềm năng;
- Các báo cáo nghiên cứu của Liên minh viễn thông quốc tế (ITU) đã chỉ ra việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng băng thông sẽ tạo động lực mạnh cho phát triển kinh tế, cụ thể cứ tăng 10% tỷ lệ thâm nhập băng rộng (3G trở lên) sẽ làm tăng GDP mỗi năm ở các nước đang phát triển tăng 1,5% do góp phần tăng năng suất, hiệu quả và có khả năng tích lũy cho nền kinh tế;
- Các nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (Worldbank)đã chỉ ra rằng tỷ lệ phổ cập (penetration) băng rộng tăng trưởng 10% thì sẽ mang lại tăng trưởng GDP là 1,38%;
- Theo nhận định của McKinsey và Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng Châu Á (AIIB), đầu tư vào cơ sở hạ tầng số ở khu vực Châu Á sẽ tăng từ 6% đến 11% mỗi năm trong giai đoạn 2018 ÷2030. Đồng thời các nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng trong khi cơ sở hạ tầng vật lý (giao thông, xây dựng...) có thể tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút FDI vào một quốc gia, thì tầm quan trọng của hạ tầng số đã ngày càng tăng trong những năm gần đây: “Khả năng kết nối Internet, băng rộng, việc triển khai cáp quang và thành lập các trung tâm dữ liệu đều là những thông tin tích cực mà nhà đầu tư FDI quan tâm”.
- Nghiên cứu trên thế giới cũng đã chỉ ra rằng trong khi cơ sở hạ tầng vật lý (giao thông, xây dựng...) có thể tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút FDI vào một quốc gia, nhưng bên cạnh đó tầm quan trọng của hạ tầng số đã ngày càng tăng trong những năm gần đây. Khả năng kết nối Internet, băng rộng, sự sẵn sàng về Wi-Fi, việc triển khai cáp quang và thành lập các trung tâm dữ liệu đều là những thông tin tích cực mà nhà đầu tư FDI quan tâm. Biểu đồ dưới đây cho thấy mối tương quan chặt chẽ giữa tốc độ download trung bình của một số nước và mức độ thu hút các dự án FDI mà họ quản lý, trong khi Singapore, Hong Kong và Mỹ dẫn đầu thì Ethiopia, Venezuela và Turkmenistan tụt hậu
Trong nước
- Văn kiện Đại hội Đảng XIII đã xác định “Phát triển mạnh hạ tầng số, xây dựng và phát triển đồng bộ hạ tầng dữ liệu quốc gia, vùng, địa phương kết nối đồng bộ, thống nhất, tạo nền tảng phát triển kinh tế số, xã hội số” là một hướng ưu tiên trong xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng cho phát triển kinh tế số, góp phần thực hiện mục tiêu đến năm 2025 kinh tế số chiếm 20% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và đến năm 2030 chiếm khoảng 30% GDP.
- Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã xác định: hợp tác công tư để phát triển hạ tầng số hiện đại, trong đó nguồn lực nhà nước là chủ yếu. Phát triển hạ tầng viễn thông, Internet đáp ứng yêu cầu dự phòng, kết nối, an toàn, bền vững, hệ thống truyền dẫn dữ liệu qua vệ tinh, mạng cáp quang băng thông rộng tốc độ cao phủ sóng toàn quốc, mạng thông tin di động 5G, 6G và các thế hệ tiếp theo. Phát triển hạ tầng vật lý số, hạ tầng tiện ích số; tích hợp cảm biến, ứng dụng công nghệ số vào hạ tầng thiết yếu. Phát triển ngành công nghiệp IoT, xây dựng một số cụm công nghiệp IoT di động.
Với bối cảnh trong nước và quốc tế như đã nêu ở trên, có thể thấy, việc phát triển, xây dựng hạ tầng số đồng bộ, hiện đại phục vụ chuyển đổi số toàn diện, tạo tiền đề phát triển kinh tế số, xã hội số là xu hướng phát triển của thế giới nói chung và sự quyết tâm của Việt Nam nói riêng.
3. Kinh nghiệm quốc tế
3.1. Về xu hướng phát triển hạ tầng số
Hạ tầng viễn thông băng rộng
Chỉ cách đây vài năm, hạ tầng viễn thông vẫn chỉ được đầu tư để truyền tải, xử lý thoại, tin nhắn với tốc độ kbps, mbps thì hiện nay xu hướng chung của quốc tế (trong đó có Việt Nam) đều đang tập trung đầu tư phát triển hạ tầng viễn thông băng rộng để bảo đảm cung cấp mọi loại hình dịch vụ với tốc độ Gbps, Tbps
Các nghiên cứu quốc tế dự báo trong giai đoạn đến 2025:
- Kết nối 4G sẽ chiếm 46% tổng số kết nối di động, so với 42% vào năm 2018. Kết nối 4G di động toàn cầu sẽ tăng từ 3,7 tỷ vào năm 2018 lên 6,0 tỷ vào năm 2023 với tốc độ CAGR là 10%.
- Kết nối 5G sẽ tăng hơn 100 lần từ khoảng 13 triệu vào năm 2019 lên 1,4 tỷ vào năm 2025. Kết nối 5G đang trở thành một ứng cử viên mạnh mẽ cho kết nối di động do tăng trưởng IoT di động. Đến năm 2025, sẽ có hơn 11% thiết bị và kết nối có khả năng 5G.
Các báo cáo nghiên cứu của ITU đã chỉ ra việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng băng thông rộng sẽ tạo động lực mạnh cho phát triển kinh tế, cụ thể cứ tăng 10% tỷ lệ thâm nhập băng thông rộng (3G trở lên) sẽ làm tăng GDP mỗi năm ở các nước đang phát triển tăng 1,5% do góp phần tăng năng suất, hiệu quả và có khả năng tích lũy cho nền kinh tế.
Hạ tầng IoT
Internet vạn vật (IoT) đã trở thành một hệ thống phổ biến trong đó mọi người, quy trình, dữ liệu và mọi thứ kết nối với Internet và với nhau. Trên bình diện toàn cầu, kết nối IoT sẽ đạt gần 26-30 tỷ thiết bị (trung bình 4 thiết bị/người dân: mỗi người 2 thiết bị cầm tay (mobile, máy tính hoặc đồng hồ), 1 phương tiện di chuyển, 1 thiết bị gia dụng).
Sự phát triển bùng nổ về các thiết bị người dùng cuối di động và kết nối M2M là một chỉ báo rõ ràng về sự phát triển của IoT di động, vốn đang tập hợp mọi người, quy trình, dữ liệu và mọi thứ để làm cho các kết nối mạng trở nên phù hợp và có giá trị hơn. Theo dự báo của các tổ chức quốc tế, với sự phát triển của hạ tầng băng rộng, thì hạ tầng IoT sẽ ngày càng phát triển để kết nối người –máy, máy – máy.
Hạ tầng điện toán đám mây (cloud) trở thành một hạ tầng quan trọng, đóng vai trò chủ đạo
Thị trường dịch vụ đám mây toàn cầu dự báo tăng trưởng 16% mỗi năm, đạt 1,2 tỷ đô la vào năm 2025 (bao gồm IaaS, PaaS, SaaS, PS và Manage Service).
Riêng tại Tại Châu Á - Thái Bình Dương, dịch vụ Hạ tầng cho Cloud (IaaS) phát triển mạnh mẽ, trong đó khu vực Đông Nam Á được dự báo sẽ có tốc độ tăng trưởng mạnh (31%).
Public Cloud chiếm ~ 40% thị trường nền tảng và cơ sở hạ tầng điện toán đám mây toàn cầu và đang phát triển nhanh nhất (25-35%).
4. Thực trạng phát triển hạ tầng số tại Việt Nam
Cuộc đổi mới lần 1 (công nghệ analog sang công nghệ số) của ngành viễn thông từ 30 năm trước đã tạo cú hích để hạ tầng viễn thông trở thành một trong những lĩnh vực phát triển mạnh mẽ nhất của nền kinh tế, bắt đầu với sự chuyển đổi từ công nghệ analog sang công nghệ số, sau đó là chính thức hòa mạng Internet toàn cầu từ năm 1997, triển khai các thế hệ điện thoại di động và băng rộng. Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia có tốc độ phát triển và ứng dụng Internet nhanh nhất thế giới với trên 70% dân số được nối mạng.
Hạ tầng viễn thông Việt Nam đã đạt được nhiều chỉ tiêu quan trọng như:
- Mạng băng rộng di động phát triển, tỷ lệ dân số được phủ sóng 4G đạt 99,8%. Số thuê bao băng rộng di động/100 dân: 90%
- Cáp quang phủ khắp cả nước đến 100% xã. Số thuê bao băng rộng cố định hơn đạt trên 18 triệu (trong đó chủ yếu sử dụng cáp quang FTTH), tăng trưởng 15%/năm, trên 68% hộ gia đình có kết nối FTTH.
- 06 tuyến cáp quang biển, 3 tuyến cáp quang đất liền kết nối với các nước trong khu vực như Lào, Campuchia, Trung Quốc,
- 2 vệ tinh địa tĩnh (Vinasat1, Vinasat 2) phủ 100% diện tích đất nước.
Mạng 5G cũng đã được cấp phép và triển khai thử nghiệm tại gần 20 tỉnh, phố.
Như vậy có thể thấy hạ tầng viễn thông của Việt Nam hiện về cơ bản đã đáp ứng các nhu cầu về thông tin liên lạc của người dân.
Số liệu thống kê cũng cho thấy, doanh thu dịch vụ viễn thông hiện duy trì mức tăng trưởng 5%/ năm dựa chủ yếu nhờ sự tăng trưởng của băng rộng di động (tăng 14%) và băng rộng cố định (tăng 8%), trong khi doanh thu từ thoại và nhắn tin sụt giảm mạnh (giảm 11%).
Như vậy, nhu cầu phát triển hạ tầng viễn thông băng rộng chất lượng cao đã và đang được đặt ra ngày một cấp thiết tại Việt nam cũng như trên thế giới.
Về hiện trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ, ứng dụng IoT trên thị trường của Việt Nam:
Hiện nay người dùng chủ động sử dụng các số điện thoại di động làm phương tiện giao tiếp giữa các thiết bị, giữa thiết bị và người với các mục đích như truyền dữ liệu data, hình ảnh… thông qua các gói cước di động thông thường mà nhà mạng đang cung cấp cho khách hàng, dẫn tới nhà mạng đang chưa quản lý được đầy đủ theo mục đích sử dụng của khách hàng. Ngoài ra các nhà mạng quản lý được các thuê bao sử dụng các sản phẩm và giải pháp của nhà mạng cung cấp, đối với các khách hàng sử dụng giải pháp của các tổ chức khác thì chưa thống kê được, để quản lý, thống kê đầy đủ thông tin các nhà mạng cần quản lý cung cấp đầu số M2M đúng quy hoạch, hơn nữa người sử dụng còn dùng các giải pháp không dây tầm ngắn short-range (Bluetooth, Wi-Fi ...) trong các ứng dụng IoT, nên để đánh giá quy mô phát triển thị trường IoT của Việt Nam cần có các phương pháp quản lý và thống kê phù hợp.
Việt Nam có hạ tầng viễn thông tốt, có các doanh nghiệp viễn thông mạnh có khả năng đầu tư trước về hạ tầng IoT để phủ sóng toàn quốc và quy hoạch đủ kho số, địa chỉ IP cho hàng tỷ thiết bị IoT, từ đó hạ tầng IoT sẽ là thị trường tiềm năng và sẽ tạo ra sự phát triển bùng nổ trong thời gian tới.
Với ước tính 2,5-3 thiết bị IoT/người thì đến năm 2025, kết nối IoT tại Việt Nam sẽ đạt khoảng 250 - 300 triệu kết nối và đến 2030, khi 5G phủ toàn quốc thì số lượng này sẽ đạt 800 triệu thiết bị.
Thị trường điện toán đám mây tại Việt Nam:
Có 03 nhóm nhà cung cấp: các doanh nghiệp nước ngoài (Google, Microsoft …), các doanh nghiệp trong nước có quy mô lớn với sự đầu tư đồng bộ (Viettel, VNPT, CMC, FPT) và một nhóm các doanh nghiệp nhỏ cung cấp các ứng dụng hoặc dịch vụ.
Thị trường điện toán đám mây (Cloud) của Việt Nam cuối năm 2020 đạt khoảng 200 triệu USD (4.600 tỷ đồng). Tuy vậy, các doanh nghiệp Việt Nam mới chiếm khoảng 20% thị phần các sản phẩm, dịch vụ điện toán đám mây trong nước (tương đương hơn 900 tỷ đồng), 80% thị phần còn lại do nhà cung cấp nước ngoài cung cấp (Google, AWS, Microsoft Azure,...).
Với quy mô dân số ở Việt Nam và quỹ đạo tăng trưởng dữ liệu của quá chình chuyển đổi sang chính phủ số, xã hội số và kinh tế số đòi hỏi sự phát triển mạnh mẽ của các Trung tâm dữ liệu, nơi đáp ứng yêu cầu lữu trữ, tính toán, xử lý dữ liệu ngày càng gia tăng của đất nước. Thị trường Trung tâm dữ liệu Việt Nam đã chứng kiến tăng trưởng vượt bậc trong thập kỷ qua, dựa trên sự bùng nổ dữ liệu thông qua điện thoại thông minh, trang mạng xã hội, thương mại điện tử, giải trí số, giáo dục số, thanh toán số và nhiều dịch vụ kỹ thuật số khác. Việc tăng trưởng dữ liệu được kích thích hơn nữa bằng việc áp dụng các công nghệ mới như Máy tính hiệu năng cao, trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), v.v.
Hiện nay Việt Nam có:
- 70 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ băng rộng cố định, trong đó có 17 doanh nghiệp nhà nước, 01 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, 52 doanh nghiệp tư nhân. Nhưng tỷ lệ đầu tư của doanh nghiệp tư nhân trong đầu tư băng rộng cố định chỉ chiếm 7,52%:
- 08 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ băng rộng di động mặt đất, trong đó có 05 doanh nghiệp nhà nước, 03 doanh nghiệp tư nhân. Tỷ trọng đầu tư của doanh nghiệp tư nhân trong đầu tư băng rộng di động chỉ chiếm 0,14%:
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy để tạo niềm tin sử dụng điện toán đám mây thì nhà nước cần ban hành các chính sách về phân loại dữ liệu để quản lý, bảo vệ vì dữ liệu được coi như loại dầu mới của nền kinh tế kỹ thuật số (Data Is the New Oil of the Digital Economy) nếu không có chính sách bảo vệ thì tổ chức, doanh nghiệp không yên tâm khi đưa tài sản đó lên “mây”. Tại Thái Lan, quy định hạn chế rất nhiều thông tin người sử dụng dịch vụ ngân hàng có thể được đưa ra nước ngoài; Thông tin cá nhân phải được lưu giữ ở Thái Lan và các tổ chức (ví dụ ngân hàng) phải đáp ứng các quy định bảo vệ dữ liệu khi di chuyển ra ngoài quốc gia; Lũ lụt năm 2011, cuộc biểu tình áo màu và cuộc đảo chính năm 2014 đã giúp nhiều doanh nghiệp nhận ra rằng họ cần các giải pháp sao lưu và dự phòng để bảo vệ dữ liệu của họ và tiếp tục hoạt động trong thời gian khủng hoảng.
Mặc dù dịch vụ điện toán đám mây được xác định là mang lại nhiều lợi thế cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhưng còn nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thực sự hiểu rõ về điện toán đám mây. Nhà nước có thể xem xét việc nâng cao nhận thức trong việc thúc đẩy các hoạt động cung cấp thông tin về lợi ích của dịch vụ điện toán đám mây cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ví dụ, Đức đã khởi động một chương trình hành động tổng thể về điện toán đám mây nhằm mục đích khuyến khích sử dụng điện toán đám mây trong toàn bộ nền kinh tế Đức. Chiến lược nâng cao kỹ năng về sử dụng dịch vụ điện toán đám mây của Ireland. Chương trình cải thiện, nâng cao kỹ năng sử dụng dịch vụ điện toán đám mây cho nhân sự có tay nghề cao của Nhật Bản.
Tỷ lệ cơ quan nhà nước ở nước ta sử dụng dịch vụ Cloud còn rất thấp. Báo cáo của OECD đã chỉ ra tiềm năng tiết kiệm chi phí cho các chính phủ nằm trong khoảng từ 25% đến 50% khi triển khai sử dụng dịch vụ điện toán đám mây trong đầu tư CNTT của cơ quan nhà nước (Cloud Computing: The Concept, Impacts and the Role of Government Policy).
Tỷ trọng cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp trong nước so với nước ngoài còn thấp (chỉ chiếm 20%; 80% thị phần của nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài).
5. Kết luận
Qua các nghiên cứu nêu trên có thể thấy hạ tầng số là hạ tầng quan trọng, hạ tầng thiết yếu để Việt Nam thực hiện thành công chuyển đổi số, do đó cần có các quan điểm, định hướng mang tính dẫn dắt, thúc đẩy để có thể thúc đẩy việc phát triển hạ tầng số. Một số gợi ý cho phát triển hạ tầng số Việt Nam như sau:
- Hạ tầng số phải được xác định được phát triển, cung cấp như dịch vụ và phải là hạ tầng thiết yếu của nền kinh tế số, xã hội số.
- Thúc đẩy phát triển các nền tảng ứng dụng kết nối chính quyền và người dân; nền tảng ứng dụng trong y tế, giáo dục, thương mại điện tử,… có thể cài đặt trên điện thoại thông minh để điện thoại thông minh trở thành công cụ làm việc, học tập, sinh hoạt của mỗi cá nhân. Khuyến khích các doanh nghiệp viễn thông và các nhà phát triển nền tảng ứng dụng (mobile app) có các chương trình hỗ trợ người dân chuyển sang sử dụng điện thoại thông minh);
- Thúc đẩy việc sử dụng dịch vụ dùng tài khoản viễn thông thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhỏ (Mobile Money) trong việc thanh toán các dịch vụ công cũng như các dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, y tế, giao thông, thương mại;
- Các doanh nghiệp cung cấp hạ tầng số phải chủ động rà soát, từ chối hợp tác, kinh doanh với các tổ chức, doanh nghiệp có hành vi vi phạm pháp luật và không để các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật sử dụng hạ tầng của mình;
- Truyền thông, phổ biến các kỹ năng số cơ bản cho người dân, bao gồm các kỹ năng cơ bản như truy cập và sử dụng Internet, thư điện tử, mua bán trực tuyến, thanh toán điện tử, dịch vụ công trực tuyến và bảo đảm an toàn thông tin cá nhân. Triển khai các chiến dịch tuyên truyền, nâng cao nhận thức về lợi ích của việc chuyển đổi từ hạ tầng công nghệ thông tin đơn lẻ sang điện toán đám mây nhằm tăng tỷ lệ sử dụng điện toán đám mây của các doanh nghiệp trong nước.
Trịnh Thị Trang
Tài liệu tham khảo:
1. CLOUD COMPUTING: THE CONCEPT, IMPACTS AND THE ROLE OF GOVERNMENT POLICY – OECD 2014
2. https://www.statista.com/statistics/1101442/iot-number-of-connected-devices-worldwide/
3. ITU-D: The economic contribution of broadband, digitization and ICT regulation – 2019
4.https://documents1.worldbank.org/curated/en/178701467988875888/pdf/102955-WP-Box394845B-PUBLIC-WDR16-BP-Exploring-the-Relationship-between-Broadband-and-Economic-Growth-Minges.pdf trang 3
5.https://www.cisco.com/c/en/us/solutions/collateral/executive-perspectives/annual-internet-report/white-paper-c11-741490.html://www.aiib.org/en/policies-strategies/operational-policies/digital-infrastructure-strategy/.content/_download/Full-DISA-Report_final-with-Appendix-2020-01-10.pdf (trang 33)
6.https://investmentmonitor.ai/business-activities/infrastructure/fdi-drivers-infrastructure-and-the-rise-of-digital
7.https://investmentmonitor.ai/business-activities/infrastructure/fdi-drivers-infrastructure-and-the-rise-of-digital
8.https://hbr.org/2020/12/which-economies-showed-the-most-digital-progress-in-2020
9.https://www.itu.int/en/ITU-D/Regional Presence/AsiaPacific/SiteAssets/Pages/Events/2019/RRITP2019/ASP/ITU_2019_Digital_Infrastructure_5Sep2019FNL.pdf