Đang xử lý.....

Dự thảo Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo - 10 chuyển biến lớn theo hướng “quản lý theo kết quả, thúc đẩy ứng dụng”  

Dự thảo Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo đang tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện với nhiều đổi mới được đánh giá là mạnh mẽ, mang tính cách mạng. Theo Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, lần sửa đổi này không chỉ điều chỉnh các quy định hiện hành mà còn thể hiện sự thay đổi căn bản về tư duy phát triển, trong đó khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được đặt ở vị trí trung tâm để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
Chủ Nhật, 20/07/2025 54
|

Từ quan điểm xuyên suốt “khoa học công nghệ là nền của một quốc gia”, dự thảo Luật nhấn mạnh vai trò quyết định của KHCN trong sự hưng thịnh và sức mạnh của đất nước. Nhiều ý kiến cũng đề cập đề xuất nâng mức chi cho khoa học công nghệ/đổi mới sáng tạo từ 2% lên 3% ngân sách nhà nước, cho thấy yêu cầu tăng cường nguồn lực để tạo bứt phá trong giai đoạn mới. Trên nền tảng đó, dự thảo Luật đưa ra 10 điểm mới nổi bật.

Trước hết, đổi mới sáng tạo (ĐMST) lần đầu tiên được đưa vào dự thảo Luật và được đặt ngang hàng với khoa học và công nghệ. Đây là điểm nhấn quan trọng, thể hiện sự thay đổi về tư duy phát triển: nếu khoa học công nghệ chủ yếu là hoạt động chuyên sâu của đội ngũ nhà khoa học, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển tri thức và công nghệ mới, thì đổi mới sáng tạo là quá trình của toàn dân, của mọi tổ chức, nhằm tạo ra hoặc cải tiến sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh, quy trình quản lý dựa trên đổi mới công nghệ. Dự thảo Luật bổ sung cơ chế hỗ trợ ĐMST, nhất là trong doanh nghiệp, đồng thời thúc đẩy vai trò các tổ chức trung gian như trung tâm hỗ trợ ĐMST, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và quỹ đầu tư mạo hiểm. Cách tiếp cận này cũng phản ánh nhận định: nếu KHCN và ĐMST được kỳ vọng đóng góp 4% vào tăng trưởng GDP thì phần của ĐMST chiếm tới 3%, còn KHCN chiếm 1%, cho thấy vai trò lan tỏa và tính thực tiễn của đổi mới sáng tạo.

Thứ hai, dự thảo Luật đổi mới mạnh mẽ tư duy quản lý nhà nước, chuyển từ kiểm soát quy trình và đầu vào (hóa đơn, chứng từ chi tiết) sang quản lý kết quả và hiệu quả đầu ra, đồng thời chấp nhận rủi ro gắn với quản trị rủi ro. Trọng tâm không còn nằm ở “làm như thế nào” mà là “kết quả mang lại gì” và tác động thực tiễn ra sao. Bộ Khoa học và Công nghệ được giao trách nhiệm đo lường hiệu quả tổng thể của các chương trình, nhiệm vụ; lấy kết quả làm căn cứ phân bổ nguồn lực. Các tổ chức KHCN chỉ được cấp tiếp nhiệm vụ nếu chứng minh được hiệu quả của kết quả nghiên cứu trước đó.

Thứ ba, dự thảo Luật tăng quyền tự chủ cho tổ chức, cá nhân và chủ nhiệm đề tài trong triển khai nhiệm vụ, quản lý bộ máy, chi tiêu theo cơ chế khoán chi, đi kèm yêu cầu trách nhiệm giải trình và minh bạch. Đặc biệt, tổ chức và cá nhân thực hiện nhiệm vụ được quyền sở hữu kết quả nghiên cứu để thương mại hóa; người làm nghiên cứu được hưởng tối thiểu 30% thu nhập từ thương mại hóa và được miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập này. Cơ chế phân chia lợi ích được kỳ vọng tạo động lực đổi mới, khuyến khích tinh thần dám nghĩ dám làm và gắn nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn.

Thứ tư, dự thảo Luật xác lập định hướng chuyển từ một quốc gia chủ yếu sử dụng công nghệ lõi sang làm chủ các công nghệ chiến lược có tác động lớn đến tăng trưởng và an ninh quốc gia. Ngân sách nhà nước đầu tư cho R&D sẽ được ưu tiên phân bổ khoảng 40–50% cho các nhiệm vụ làm chủ công nghệ chiến lược, thay vì dàn trải. Việc triển khai giao cho doanh nghiệp và tổ chức nghiên cứu có năng lực, uy tín, dựa trên đánh giá hiệu quả đầu ra. Nhà nước cũng đầu tư xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm, phòng thí nghiệm dùng chung và hạ tầng kỹ thuật hiện đại phục vụ công nghệ chiến lược.

Thứ năm, dự thảo Luật bổ sung thêm một “chiều” quan trọng trong phát triển KHCN: không chỉ đi một chiều từ nghiên cứu cơ bản đến phát triển công nghệ rồi tạo sản phẩm, mà còn đi từ “đất” đi lên – lấy thị trường và định hướng sản phẩm làm động lực, làm căn cứ xác định bài toán công nghệ và bài toán nghiên cứu. Đây là chuyển dịch tư duy từ “khoa học ở trên trời đi xuống đất” sang gắn kết chặt với nhu cầu ứng dụng và phát triển.

Thứ sáu, dự thảo Luật định hướng chuyển nghiên cứu cơ bản về các cơ sở giáo dục đại học, phù hợp thông lệ quốc tế, vì đây là nơi tập trung lực lượng nghiên cứu cơ bản đông đảo, đặc biệt là nhân lực trẻ. Tuy nhiên, chuyển dịch này không đồng nghĩa loại bỏ vai trò của các viện nghiên cứu; ngược lại, các viện, nhất là hai Viện Hàn lâm, vẫn có thể tiếp tục thực hiện nhiệm vụ phù hợp thế mạnh. Dự thảo cũng không giới hạn quyền phát triển công nghệ của các trường đại học, thúc đẩy mô hình tích hợp đào tạo – nghiên cứu – đổi mới sáng tạo.

Thứ bảy, dự thảo Luật chuyển trọng tâm phát triển công nghệ về doanh nghiệp, dành một chương riêng cho chính sách thúc đẩy R&D và ĐMST trong doanh nghiệp. Doanh nghiệp được khuyến khích đầu tư và được hỗ trợ theo cơ chế “mồi” tài chính với nguyên tắc “Nhà nước chi 1 đồng để thu hút 3–4 đồng từ doanh nghiệp”. Tỷ lệ ngân sách nhà nước tài trợ cho R&D của doanh nghiệp dự kiến tăng từ mức khoảng 10% trước đây lên 70–80%. Đồng thời, doanh nghiệp được hạch toán chi R&D như chi phí sản xuất kinh doanh, không còn giới hạn mức tối đa; được khấu trừ thuế với hệ số ưu đãi 150%, có thể lên đến 200% nếu đầu tư công nghệ chiến lược. Doanh nghiệp có lãi còn được trích tối đa 5% lợi nhuận trước thuế lập quỹ đầu tư vào khởi nghiệp sáng tạo; nhà nước ưu tiên mua sắm sản phẩm khoa học công nghệ của doanh nghiệp trong nước.

Thứ tám, dự thảo Luật nhấn mạnh cân bằng giữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, khuyến khích kết hợp liên ngành để công nghệ phát triển gắn với các giá trị đạo đức. Đồng thời phân biệt cách tiếp cận giữa nghiên cứu khoa học (cần không gian tự do sáng tạo, ít định hướng ứng dụng) và phát triển công nghệ (gắn kết quả đầu ra và ứng dụng thực tiễn). Tùy giai đoạn, chính sách có ưu tiên khác nhau; hiện tập trung nhiều hơn cho phát triển công nghệ để tạo tác động nhanh, nhưng vẫn duy trì nền tảng nghiên cứu cơ bản.

Thứ chín, dự thảo Luật đặt KHCN và ĐMST trong một hệ sinh thái hoàn chỉnh và cân bằng, gồm thể chế, hạ tầng, nhân lực và các chủ thể như doanh nghiệp, viện, trường, nhà nước, nhà nghiên cứu, định chế tài chính, tổ chức trung gian, trung tâm đổi mới sáng tạo và các quỹ. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thông qua đầu tư hạ tầng nghiên cứu, hỗ trợ thông tin, tiêu chuẩn, sở hữu trí tuệ, cơ chế tài chính ưu đãi và thu hút nhân tài. Sự phối hợp giữa các chủ thể được thúc đẩy qua cơ chế đặt hàng nhiệm vụ liên kết viện – trường – doanh nghiệp, đồng tài trợ quỹ nhà nước và tư nhân, công nhận trung tâm đổi mới sáng tạo làm đầu mối kết nối và chính sách chia sẻ lợi ích.

Thứ mười, dự thảo Luật thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện hoạt động nghiên cứu và quản lý KHCN. Các tổ chức nghiên cứu sẽ sử dụng nền tảng số quốc gia để quản lý nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước; cơ quan quản lý theo dõi toàn bộ vòng đời nhiệm vụ, kể cả nhiệm vụ kéo dài 10–15 năm. Dự thảo chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, cắt giảm mạnh thủ tục hành chính và thay thế bằng quản lý số hóa, qua đó tăng minh bạch và năng lực giám sát dài hạn.

Với các điểm mới nêu trên, dự thảo Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo thể hiện định hướng quản lý theo kết quả, khuyến khích thương mại hóa, tăng tự chủ gắn trách nhiệm giải trình và chuyển mạnh trọng tâm phát triển công nghệ về doanh nghiệp. Đây là những điều chỉnh nhằm tạo động lực mới cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn tới.

Nguyễn Thanh Dung

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập: 452
    • Khách Khách 452
    • Thành viên Thành viên 0
    • Tổng lượt truy cập Tổng
    • Tổng số lượt truy cập: 5547222