Chính phủ số là bước phát triển cao hơn của chính phủ điện tử, tận dụng công nghệ số và dữ liệu để đổi mới cách vận hành bộ máy nhà nước, cung cấp dịch vụ công nhanh chóng, minh bạch, lấy người dân làm trung tâm. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, Việt Nam xác định xây dựng Chính phủ số là một trong ba trụ cột của chuyển đổi số quốc gia nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. Bài viết phân tích xu hướng phát triển Chính phủ số trên thế giới, kết quả và định hướng của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh xây dựng Chính phủ số trong giai đoạn tới.

Xu hướng chung về phát triển Chính phủ số
Chính phủ số là quá trình chuyển đổi số của chính phủ. Khi đó, Chính phủ sẽ có toàn bộ hoạt động an toàn trên môi trường số, có mô hình hoạt động được thiết kế lại và vận hành dựa trên dữ liệu và công nghệ số, để có khả năng cung cấp dịch vụ chất lượng hơn, đưa ra quyết định kịp thời hơn, ban hành chính sách tốt hơn, sử dụng nguồn lực tối ưu hơn, kiến tạo phát triển, dẫn dắt chuyển đổi số quốc gia, giải quyết hiệu quả những vấn đề lớn trong phát triển và quản lý kinh tế - xã hội.
Trong 20 năm qua, hầu hết các nước trên thế giới đã triển khai chương trình phát triển chính phủ điện tử và chuyển dịch chiến lược từ chính phủ điện tử (e-government) sang chính phủ số (digital government), thậm chí hướng tới chính phủ thông minh (smart government).
Sự khác biệt chính nằm ở mức độ tận dụng dữ liệu và công nghệ. Nếu chính phủ điện tử chủ yếu ứng dụng CNTT để tin học hóa quy trình và cung cấp dịch vụ công trực tuyến, thì chính phủ số sử dụng dữ liệu số và công nghệ số để tái cấu trúc quy trình, dựa trên dữ liệu để ra quyết định và cung cấp dịch vụ tối ưu, chủ động hơn. Chính phủ thông minh được xem là giai đoạn tiếp theo, khi chính phủ số được tích hợp thêm trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và kết nối vạn vật, cho phép dự báo và phục vụ một cách thông minh, cá nhân hóa hơn nữa.
Ví dụ như Úc là quốc gia phát triển với hệ thống liên bang, bắt đầu chương trình chính phủ điện tử từ sớm và hiện đặt mục tiêu trở thành một trong top 3 chính phủ số hàng đầu thế giới vào năm 2025. Chính phủ Úc xây dựng chiến lược chuyển đổi số toàn chính phủ theo từng giai đoạn. Chiến lược Chính phủ số 2018 đề ra mục tiêu “mọi dịch vụ chính phủ đều cung cấp trực tuyến vào năm 2025”. Năm 2023, Úc cập nhật Chiến lược Dữ liệu và Kỹ thuật số Chính phủ với tầm nhìn đến 2030: “Cung cấp dịch vụ công đơn giản, an toàn và kết nối cho mọi người dân và doanh nghiệp nhờ năng lực dữ liệu và kỹ thuật số đẳng cấp thế giới”. Để thực hiện tầm nhìn này, Úc đề ra 5 sứ mệnh trọng tâm về chuyển đổi số, cùng kế hoạch hành động được cập nhật hằng năm. Do đó, Úc được Liên hợp quốc đánh giá rất cao ở cả chỉ số hạ tầng viễn thông và dịch vụ trực tuyến. Năm 2022, Úc đạt EGDI = 0,9405 (rất cao). Chính phủ Úc đã triển khai 110 dự án số quy mô lớn trên toàn quốc, từ cải tiến cổng dịch vụ đến ứng dụng AI trong y tế. Theo báo cáo của Úc, hơn 91% dịch vụ công phổ biến hiện đã có trực tuyến và mức độ hài lòng của người dân với dịch vụ số chính phủ đạt trên 80%.
Tương tự như vậy, Singapore được xem là hình mẫu về chính phủ điện tử và quốc gia thông minh (Smart Nation). Singapore có tầm nhìn trở thành “Quốc gia thông minh” từ 2014, dựa trên 3 trụ cột: chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Về chính phủ số, Singapore ban hành Khung Chính phủ kỹ thuật số với tuyên bố tầm nhìn “Chính phủ Singapore số tận tâm vì người dân” (Digital to the Core, Serve with Heart). Bản Kế hoạch Chính phủ số (Digital Government Blueprint - DGB) đầu tiên công bố 6/2018, phiên bản thứ hai năm 12/2020. Nhờ sự đồng bộ giữa chiến lược, tổ chức và công nghệ, Singapore đã gặt hái nhiều thành quả như: Dịch vụ công trực tuyến được người dân hưởng ứng mạnh, tỷ lệ người dân sử dụng dịch vụ số đạt trên 90%. Singapore cũng dẫn đầu thế giới về mức độ hài lòng của dân với dịch vụ chính phủ. Đặc biệt, Singapore có hệ thống quản lý danh tính và quyền truy cập rất chặt chẽ, đảm bảo niềm tin cho việc chia sẻ dữ liệu cá nhân…
Đan Mạch là quốc gia Bắc Âu nhỏ (khoảng 5.8 triệu dân) nhưng lại là quán quân thế giới về chính phủ điện tử nhiều năm liền. Theo Liên hợp quốc, Đan Mạch xếp hạng 1 thế giới về EGDI trong các kỳ khảo sát 2018, 2020, 2022. Năm 2022, Đan Mạch đạt EGDI = 0,9717 – cao nhất toàn cầu, đặc biệt dẫn đầu ở chỉ số dịch vụ trực tuyến (OSI ~0,98) và hạ tầng viễn thông (TII ~0,98). Chính phủ Đan Mạch áp dụng cách tiếp cận chiến lược liên tục: từ những năm 2001 đã có các Chiến lược số hóa 4 năm phối hợp giữa chính phủ trung ương, chính quyền địa phương và khu vực tư. Gần đây, Đan Mạch ban hành Chiến lược số quốc gia 2022-2025 với 9 tầm nhìn lớn về phát triển kỹ thuật số toàn diện.
Theo đó, chuyển đổi số chính phủ là xu thế không thể đảo ngược của thế giới mà ở đó, Chính phủ số cũng là trụ cột để tiến tới quản trị thông minh, sử dụng dữ liệu và công nghệ để giải quyết hiệu quả những vấn đề phức tạp (đô thị thông minh, biến đổi khí hậu, phòng chống dịch bệnh...). Tại Việt Nam, phát triển chính phủ số vừa là yêu cầu, vừa là cơ hội để chúng ta đổi mới mô hình quản trị, bắt kịp xu hướng thời đại.
Hoàn thiện chiến lược, nâng cao hiệu lực, hiệu quả
Nhận thức được tầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số vào quá trình vận hành nền kinh tế, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách phát triển ứng dụng CNTT trong các cơ quan quản lý nhà nước như Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 07/3/2019 của Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển CPĐT giai đoạn 2019 – 2020, định hướng đến năm 2025; Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược phát triển CPĐT hướng tới CPS giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030…
Theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, trong đó xác định chương trình Chuyển đổi số quốc gia nhằm mục tiêu kép là vừa phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, vừa hình thành các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có năng lực đi ra toàn cầu.
Đặc biệt, Chương trình đã xác định những mục tiêu cơ bản đến năm 2025 về phát triển Chính phủ số, nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động với các mục tiêu cơ bản: (1) 80% dịch vụ công trực tuyến mức độ 4, được cung cấp trên nhiều phương tiện truy cập khác nhau, bao gồm cả thiết bị di động; (2) 90% hồ sơ công việc tại cấp bộ, tỉnh; 80% hồ sơ công việc tại cấp huyện và 60% hồ sơ công việc tại cấp xã được xử lý trên môi trường mạng (trừ hồ sơ công việc thuộc phạm vi bí mật nhà nước); (3) 100% chế độ báo cáo, chỉ tiêu tổng hợp báo cáo định kỳ và báo cáo thống kê về kinh tế - xã hội phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ được kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu số trên Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ; (4) 100% cơ sở dữ liệu quốc gia tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử bao gồm các cơ sở dữ liệu quốc gia về Dân cư, Đất đai, Đăng ký doanh nghiệp, Tài chính, Bảo hiểm được hoàn thành và kết nối, chia sẻ trên toàn quốc; từng bước mở dữ liệu của các cơ quan nhà nước để cung cấp dịch vụ công kịp thời, một lần khai báo, trọn vòng đời phục vụ người dân và phát triển kinh tế - xã hội; (5) 50% hoạt động kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước được thực hiện thông qua môi trường số và hệ thống thông tin của cơ quan quản lý; (6) Việt Nam thuộc nhóm 70 nước dẫn đầu về Chính phủ điện tử (EGDI).
Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử (EGDI) do Liên hợp quốc công bố hai năm một lần là thước đo tổng quát về mức độ phát triển chính phủ số của các quốc gia. Theo Báo cáo Chính phủ điện tử Liên hợp quốc năm 2022, Đan Mạch tiếp tục là nước đứng đầu thế giới về EGDI (0,9717) – đây là lần thứ ba liên tiếp Đan Mạch giữ vị trí #1. Việt Nam năm 2022 đứng thứ 86/193 nước với EGDI = 0,6903 (nhóm “Cao”). Bước sang Báo cáo năm 2024 (phiên bản mới nhất), cục diện top đầu có sự thay đổi đáng chú ý khi Singapore và Estonia vươn lên mạnh mẽ. Đan Mạch vẫn giữ vị trí quán quân thế giới năm 2024 với số điểm gần như tuyệt đối (EGDI = 0,9992). Điểm EGDI của Việt Nam 2024 đạt 0,7709 – lần đầu tiên đưa Việt Nam vào nhóm các nước “Rất cao” EGDI. Việt Nam cũng đứng thứ 5 trong ASEAN, sau Singapore, Malaysia, Thái Lan và Brunei. Điều này phản ánh những tiến bộ của Việt Nam trong mở rộng hạ tầng viễn thông (phổ cập 4G, 5G, cáp quang), nâng cao dịch vụ trực tuyến (Cổng Dịch vụ công quốc gia, ứng dụng VNeID) và cải thiện nguồn nhân lực ICT.
Vừa qua, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đây là văn kiện có ý nghĩa chiến lược, đánh dấu bước chuyển mình quan trọng của đất nước trong lĩnh vực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, là kim chỉ nam cho sự phát triển trong kỷ nguyên mới phát triển giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng và là lời hiệu triệu mạnh mẽ trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân cùng nỗ lực đưa Việt Nam thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, có năng lực cạnh tranh toàn cầu. Trong đó, khoa học công nghệ là nền tảng, đổi mới sáng tạo là động lực, chuyển đổi số là kết nối, con người là trung tâm, là chủ thể. Để thực hiện Nghị quyết 57, có 3 việc rất quan trọng phải thực hiện nhanh, hiệu quả: Thể chế thông thoáng, hạ tầng thông suốt, con người thông minh; cùng các điều kiện khác và bảo đảm an ninh, an toàn mạng.
Nghị quyết 57 cũng đề ra nhóm nhiệm vụ về đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong hoạt động của các cơ quan Nhà nước; nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia, hiệu lực quản lý Nhà nước, bảo đảm quốc phòng và an ninh. Theo đó, việc ứng dụng công nghệ tiên tiến vào hoạt động của các cơ quan Nhà nước sẽ tạo nên bước chuyển mình mạnh mẽ, góp phần kiến tạo một Chính phủ số tinh gọn, hiệu quả, phục vụ nhân dân tốt hơn. Chuyển đổi số sẽ là "chìa khóa vàng" để tối ưu hóa quy trình quản lý, nâng cao năng lực điều hành, dự báo và ra quyết định chính xác, kịp thời trên mọi lĩnh vực, từ kinh tế - xã hội đến quốc phòng - an ninh.
Đặc biệt, Nghị quyết đặt ra một số nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng Chương trình phát triển Chính phủ số, tạo ra một hệ thống quản trị hiện đại, minh bạch và hiệu quả; nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến toàn trình hướng tới việc cung cấp các dịch vụ số cá nhân hóa dựa trên dữ liệu, không phụ thuộc vào địa giới hành chính; đẩy mạnh số hóa dữ liệu, kết nối, chia sẻ, khai thác dữ liệu để cắt giảm thủ tục hành chính, trọng tâm vào các lĩnh vực như tư pháp, giáo dục, y tế và đất đai…
Thời gian qua, triển khai thực hiện Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị và các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, Chính phủ tập trung hoàn thiện thể chế, tạo hành lang pháp lý thông thoáng, kịp thời cho hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trong đó, đã ban hành Nghị quyết 71/NQ-CP để cập nhật, bổ sung Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW đã thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ trong rút ngắn thời gian và đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ chiến lược. Chính phủ đã trình Quốc hội khóa XV xem xét 19 dự án luật và 3 nghị định tại kỳ họp thứ 9, đồng thời ban hành Nghị định 88/2025/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện Nghị quyết 193/2025/QH15.
Chính phủ cũng đã phát động nhiều phong trào quy mô toàn quốc nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số như ra mắt nền tảng “Bình dân học vụ số” và phong trào “Cả nước thi đua đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số”.
Hạ tầng số quốc gia cũng ghi nhận những bước tiến rõ rệt. Tính đến nay, đã có 11.591 trạm 5G được triển khai trên toàn quốc, tương đương khoảng 7,72% số trạm 4G. Ba doanh nghiệp viễn thông lớn gồm Viettel, VNPT và Mobifone đã xây dựng kế hoạch tăng số lượng trạm 5G lên hơn 68.000 vào cuối năm 2025, nhằm phủ sóng tới 90% dân số.
Thủ tướng Chính phủ cũng đã cho phép thí điểm triển khai dịch vụ viễn thông vệ tinh quỹ đạo thấp Starlink, mở rộng khả năng kết nối toàn diện. Tổng dung lượng cáp quang biển hiện đạt 52 Tbps và sẽ tăng thêm 20,5 Tbps vào tháng 7/2025. Ngoài ra, cả nước hiện có 41 trung tâm dữ liệu thương mại với tổng công suất thiết kế lên tới 221 MW.
Về phát triển chính phủ số, Chính phủ đẩy mạnh hoạt động chỉ đạo, điều hành không giấy tờ. Hệ thống ECabinet đã xử lý 81 Phiếu lấy ý kiến thành viên Chính phủ, thay thế khoảng 19.600 tài liệu giấy. Hơn 1,2 triệu văn bản được xử lý thông qua trục liên thông văn bản quốc gia. Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình đã đạt gần 40% trên cả nước... Công tác cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tiếp tục được triển khai quyết liệt; đã cắt giảm, đơn giản hóa 872 TTHC và 118 điều kiện kinh doanh.
Chính phủ số được đẩy mạnh, triển khai vận hành hiệu quả chính quyền địa phương 2 cấp gắn với phát triển chính quyền số. Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình trên tổng hồ sơ giải quyết TTHC trong 6 tháng năm 2025 đạt 39,51%. Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư phát huy hiệu quả thiết thực thông qua việc mở rộng nhiều tiện ích, tích hợp giấy tờ thiết yếu, cẩm nang số và trợ lý ảo trên ứng dụng VNeID. Nhiều tiện ích phục vụ phát triển kinh tế - xã hội được triển khai hiệu quả, rộng khắp (có 116 triệu hồ sơ khách hàng tại ngân hàng được đối chiếu thông tin sinh trắc học, tăng gấp đôi so với năm 2024; gần 5.000 chuyến bay tại sân bay Nội Bài và Tân Sơn Nhất sử dụng nhận diện sinh trắc học để làm thủ tục đi máy bay). Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ và 7 doanh nghiệp công nghệ đã xây dựng 15 nền tảng, ứng dụng về cơ sở dữ liệu, 18 nền tảng, tiện ích từ Đề án 06; 61 tiện ích từ dữ liệu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và quản lý xã hội.
Tuy vậy, việc xây dựng Chính phủ số cũng đang gặp một số khó khăn, thách thức, đặc biệt trong bối cảnh đang vận hành chính quyền địa phương 02 cấp như rào cản về thể chế từng bước được tháo gỡ, tuy nhiên quá trình thể hóa trong triển khai thực hiện còn chậm; kinh tế số, hạ tầng số phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và tốc độ tăng trưởng kinh tế; công tác an ninh mạng, an toàn thông tin ở nhiều nơi chưa được quan tâm đúng mức; Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) còn chậm. Chất lượng cung cấp DVC trực tuyến chưa cao; Nhân lực cho chuyển đổi số, Đề án 06 còn chưa đáp ứng nhu cầu cả về số lượng, chất lượng, phân bổ chưa đồng đều….
Hiện nay, Bộ Khoa học và Công nghệ đang xây dựng và trình Thủ tướng ban hành Chương trình Chính phủ số có một số định hướng chính: Chuyển từ Chính phủ điện tử sang Chính phủ thông minh vào năm 2030; cung cấp dịch vụ công trực tuyến chủ động, cá thể hóa và tích hợp trí tuệ nhân tạo; các cơ quan nhà nước vận hành thông minh dựa trên dữ liệu qua các mô hình IoC, các nền tảng số quốc gia; sử dụng nền tảng số để đo lường, công bố trực tuyến kết quả về tỷ hồ sơ dịch vụ công trực tuyến toàn trình của từng bộ, ngành, địa phương, định kỳ hằng tháng... Đặc biệt là ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng và nguồn nhân lực chất lượng cao. Các chương trình xây dựng trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia và đào tạo chuyên gia đầu ngành sẽ được triển khai quyết liệt.
Giải pháp thúc đẩy xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam
Từ bài học các nước, muốn xây dựng thành công Chính phủ số và hướng tới Chính phủ thông minh, Việt Nam cần quyết tâm chính trị từ Trung ương đến cơ sở cùng với chiến lược rõ ràng, tổ chức thực thi tinh gọn hiệu quả, phát triển hạ tầng số dùng chung, lấy người dân làm trung tâm, đồng thời đầu tư cho an toàn thông tin và nhân lực. Những kinh nghiệm quốc tế nhấn mạnh rằng chuyển đổi số chính phủ không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà là sự đổi mới toàn diện về thể chế, quy trình và văn hóa phục vụ.
Một là, xây dựng Chương trình/Chiến lược Chính phủ số giai đoạn 2025–2030 với tầm nhìn đến 2035, đồng bộ với Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số. Chương trình cần xác định rõ các mục tiêu định lượng đến 2030. Nghiên cứu khả năng thành lập cơ quan chuyên trách về chính phủ số. Tăng cường phối hợp trung ương – địa phương trong việc chuyển đổi số và chia sẻ dữ liệu dùng chung.
Hai là, phát triển hạ tầng số quốc gia và nền tảng dùng chung. Trong đó, đẩy nhanh hoàn thiện hệ sinh thái định danh và xác thực điện tử và 100% dịch vụ công phổ biến tích hợp xác thực qua VNeID. Nâng cấp Cổng Dịch vụ công Quốc gia thành cổng dịch vụ một cửa thực sự, tích hợp sâu với các cổng dịch vụ bộ, tỉnh (tiến tới người dân chỉ cần truy cập một nơi). Xây dựng Hệ thống tương tác số với người dân, mục tiêu để 100% văn bản, thông báo đến người dân, doanh nghiệp được gửi qua kênh số. Triển khai Chính phủ điện toán đám mây (Government Cloud). Quy định lộ trình chuyển toàn bộ hệ thống thông tin của bộ, ngành lên cloud do Chính phủ quản lý hoặc thuê dịch vụ đạt chuẩn. Phát triển nền tảng quản trị dữ liệu và phân tích dữ liệu tập trung. Ứng dụng di động và đa kênh, trong đó tiếp tục phát triển ứng dụng VNeID trở thành “siêu ứng dụng” tích hợp nhiều tiện ích chính phủ số.
Ba là, cải cách quy trình, nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến, trong đó tập trung đơn giản hóa, số hóa triệt để thủ tục hành chính. Mục tiêu đến 2030, 80% thủ tục phổ biến được xử lý hoàn toàn tự động ở một số bước. Mở rộng dịch vụ công trực tuyến sang dịch vụ hành chính công chủ động. Thực hiện cơ chế “không tiếp xúc” giữa người dân và cán bộ ở nhiều khâu để giảm phiền hà, tiêu cực. Áp dụng rộng rãi các nguyên tắc thiết kế lấy người dùng làm trung tâm cho giao diện cổng dịch vụ, biểu mẫu điện tử. Để khuyến khích người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến, có thể áp dụng: giảm lệ phí nếu nộp online, xử lý nhanh hơn so với nộp trực tiếp. Chú trọng công bằng số và hỗ trợ đối tượng yếu thế.
Bốn là, tăng cường an toàn, an ninh mạng và hoàn thiện thể chế. Trước hết, hoàn thiện khung pháp lý về chính phủ số. Sớm ban hành Nghị định về Bảo vệ dữ liệu cá nhân. Nâng cao năng lực an ninh mạng, trong đó, xây dựng Trung tâm điều hành an ninh mạng Chính phủ giám sát tập trung các hệ thống quan trọng 24/7, kịp thời phát hiện và ứng phó sự cố. Tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan chính phủ và truyền thông để tuyên truyền về an toàn thông tin cho người dân.
Năm là, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ mới (AI, IoT, Big Data) hướng tới Chính phủ thông minh. Xây dựng và triển khai Chiến lược ứng dụng AI trong Chính phủ. Thiết lập Nhóm chuyên gia AI liên bộ để tư vấn các dự án AI lớn. Triển khai thí điểm các dịch vụ thông minh, các hệ thống này góp phần xây dựng đô thị thông minh, là một phần của chính phủ thông minh. Sử dụng phân tích dữ liệu và mô phỏng để dự báo nhu cầu dịch vụ công và khuyến khích doanh nghiệp công nghệ tham gia phát triển giải pháp cho chính phủ theo hình thức công – tư. Tăng số lượng và chất lượng bộ dữ liệu mở trên data.gov.vn, đặt mục tiêu đến 2025 có ít nhất 1.000 bộ dữ liệu mở từ các bộ ngành.
Sáu là, tập trung phát triển nhân lực số và thay đổi văn hóa làm việc trong cơ quan nhà nước. Trong đó, đào tạo bắt buộc kỹ năng số cho cán bộ, công chức, phấn đấu đến 2030, 100% công chức từ trung ương đến cấp xã phải qua khóa đào tạo về kỹ năng chính phủ số phù hợp vị trí. Xây dựng cơ chế đặc thù tuyển dụng chuyên gia CNTT trình độ cao với đãi ngộ cạnh tranh vào làm việc tại khu vực công. Xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo trong cơ quan chính phủ và thay đổi phương thức làm việc sang môi trường số, hướng tới “Chính phủ không giấy” – nâng cao hiệu suất và gương mẫu cho xã hội.
Chính phủ số và tiến tới Chính phủ thông minh là xu hướng mang tính toàn cầu, đóng vai trò quyết định trong nâng cao năng lực quản trị quốc gia và chất lượng phục vụ người dân. Để thực hiện được điều này, mỗi quốc gia đều xây dựng tầm nhìn chiến lược dài hạn, có sự cam kết mạnh mẽ từ lãnh đạo, cơ chế điều phối tập trung, hạ tầng công nghệ số dùng chung vững chắc (đặc biệt là định danh số và dữ liệu liên thông), tập trung vào trải nghiệm người dùng, liên tục đổi mới và ứng dụng công nghệ mới, cùng với việc đảm bảo an toàn thông tin và phát triển nhân lực. Đó cũng chính là mục tiêu và định hướng Việt Nam đang hướng tới để xây dựng nền hành chính hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, góp phần phát triển đất nước nhanh và bền vững.
Người thực hiện
Trần Thị Thùy Dương
Trung tâm Công nghệ - Chính phủ số, Cục Chuyển đổi số quốc gia
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các báo cáo của UN DESA, Digital Transformation Agency (Úc), Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam và một số cơ quan báo chí, tạp chí chuyên ngành ICT
Tài liệu tham khảo:
(1). Digital Transformation Agency (2023). Data and Digital Government Strategy – Australian Government 2030 vision. DTA, Australia.
(2). UN DESA (2022). United Nations E-Government Survey 2022. New York: United Nations.
(3). UN DESA (2024). Insights from UN E-Government Survey 2024 – Webinar. UN ESCAP.
(4). Si Ying Thian (2025). Robust, open data foundations power South Korea’s AI digital government vision. GovInsider Asia.
(5). Koh Jean (2023). Korea’s new innovation strategy: Digital Platform Government. World Economic Forum.
(6). GovInsider (2018). Denmark leads the world in digital government. GovInsider.asia.
(7). Bộ Khoa học & CN Việt Nam (2022). Phát triển Chính phủ số: Thời cơ và thách thức. Tạp chí Chuyển đổi số.
(8). Vietnam+ (2024). Việt Nam jumps 15 steps in global E-government Development Index. VietnamPlus.
(9). ICT Vietnam (2024). Thái Lan ưu tiên công nghệ đám mây trong xây dựng chính phủ số. Tạp chí ICT Việt Nam.