Đang xử lý.....

BÀI VIẾT TUYÊN TRUYỀN VỀ CHUYỂN ĐỔI SỐ THEO QĐ 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020  

Quốc gia số vì người dân: Ý nghĩa Quyết định 749/QĐ-TTg trong kỷ nguyên chuyển đổi số.
Thứ Hai, 14/07/2025 49
|

                                                         

 

Hình ảnh: Trung tâm điều hành dữ liệu và dịch vụ số – “bộ não” phục vụ triển khai Chương trình Chuyển đổi số quốc gia (Ảnh Trung tâm IOC TP Đà Nẵng).

Ngày 03/6/2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, chính thức khởi động một chương trình mang tầm chiến lược, hướng tới mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành “quốc gia số, ổn định và thịnh vượng”. Chuyển đổi số không chỉ là câu chuyện của công nghệ, mà là sự thay đổi toàn diện cách Chính phủ vận hành, doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh và người dân sống, học tập, làm việc trên môi trường số. Bài viết tuyên truyền này góp phần làm rõ ý nghĩa, kết quả, cơ hội và trách nhiệm của mỗi cá nhân, tổ chức trong việc chung tay thực hiện Chương trình Chuyển đổi số quốc gia theo Quyết định 749/QĐ-TTg.

Bối cảnh và tầm nhìn của Chương trình Chuyển đổi số quốc gia

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật, điện toán đám mây… đang làm thay đổi sâu sắc mọi mặt đời sống kinh tế – xã hội. Để chủ động nắm bắt cơ hội, ngày 27/9/2019, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, xác định “thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, trọng tâm là phát triển kinh tế số, xây dựng đô thị thông minh, chính quyền điện tử, tiến tới chính quyền số”.

Trên cơ sở đó, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 50/NQ-CP ngày 17/4/2020 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 52-NQ/TW, giao rõ nhiệm vụ cho các bộ, ngành, địa phương. Đặc biệt, Quyết định 749/QĐ-TTg đã cụ thể hóa tầm nhìn đến năm 2030: Việt Nam trở thành “quốc gia số, ổn định và thịnh vượng, tiên phong thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới; đổi mới căn bản, toàn diện hoạt động quản lý, điều hành của Chính phủ, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phương thức sống, làm việc của người dân”.

Chương trình Chuyển đổi số quốc gia được thiết kế với mục tiêu kép: vừa phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, vừa hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam đủ năng lực làm chủ công nghệ và vươn ra quốc tế. Đây là định hướng chiến lược, đưa chuyển đổi số trở thành động lực mới cho tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Ba trụ cột và các mục tiêu trọng tâm đến năm 2025, định hướng 2030

Thứ nhất, về Chính phủ số.

Quyết định 749/QĐ-TTg đề ra nhiều chỉ tiêu cụ thể đến năm 2025 và tầm nhìn 2030, như: 100% dịch vụ công đủ điều kiện được cung cấp trực tuyến mức độ 4; hầu hết hồ sơ công việc của cơ quan nhà nước được xử lý trên môi trường mạng; người dân, doanh nghiệp có thể sử dụng dịch vụ công mọi lúc, mọi nơi, trên nhiều phương tiện khác nhau. Cùng với đó là mục tiêu hoàn thành nền tảng Chính phủ điện tử, tiến tới Chính phủ số, xây dựng hệ thống chỉ đạo, điều hành và ra quyết định dựa trên dữ liệu.

Thứ hai, về kinh tế số.

Chương trình đặt mục tiêu đến năm 2025 kinh tế số chiếm khoảng 20% GDP, đến năm 2030 đạt tối thiểu 30% GDP, tỷ trọng kinh tế số trong từng ngành, lĩnh vực đạt tối thiểu 20%. Đây là bước nhảy lớn nếu so với năm 2020, khi kinh tế số mới chiếm khoảng 12% GDP. Đến năm 2023, theo tính toán của Bộ Thông tin và Truyền thông, tỷ trọng này đã đạt khoảng 16,5% và tiếp tục tăng nhanh. Năm 2024, nhiều báo cáo cho thấy kinh tế số ước chiếm khoảng 18–19% GDP, tốc độ tăng trưởng trên 20%/năm, cao gấp nhiều lần tốc độ tăng trưởng GDP chung và nằm trong nhóm tăng nhanh nhất khu vực.

Thứ ba, về xã hội số.

Chương trình hướng tới mục tiêu phổ cập Internet băng rộng cáp quang đến hầu hết hộ gia đình, phủ sóng 5G tại các khu vực đô thị và trung tâm kinh tế; mọi người dân có cơ hội tiếp cận dịch vụ số cơ bản như giáo dục, y tế, ngân hàng, thương mại, văn hóa trên môi trường số an toàn, tin cậy. Đồng thời, nâng cao kỹ năng số cho người dân, xây dựng văn hóa số lành mạnh, bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình chuyển đổi số.

Hệ sinh thái chính sách đồng bộ thúc đẩy chuyển đổi số

Quyết định 749/QĐ-TTg không đứng riêng lẻ mà nằm trong hệ sinh thái chính sách được Đảng, Nhà nước xây dựng nhất quán. Bên cạnh Nghị quyết 52-NQ/TW và Nghị quyết 50/NQ-CP, Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 14/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ đã thúc đẩy phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam, giao nhiệm vụ xây dựng Chiến lược quốc gia về phát triển doanh nghiệp công nghệ số đến năm 2030, khuyến khích hình thành các doanh nghiệp trụ cột sở hữu sản phẩm, nền tảng số “Make in Viet Nam”.

Cùng với đó là việc hoàn thiện khung pháp lý về an toàn, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân, giao dịch điện tử, chữ ký số, mở dữ liệu công, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho chuyển đổi số. Các văn bản như Luật An ninh mạng, các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, các chương trình, đề án thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, phát triển hạ tầng số… là những mảnh ghép quan trọng, bảo đảm chuyển đổi số diễn ra đồng bộ, an toàn.

Kết quả nổi bật sau hơn 4 năm triển khai Chương trình

Sau hơn 4 năm triển khai Quyết định 749/QĐ-TTg, chuyển đổi số quốc gia đã ghi dấu nhiều kết quả rõ nét. Trước hết, về Chính phủ số, Việt Nam đã có bước tiến mạnh trên Bảng xếp hạng Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử (EGDI) của Liên hợp quốc: từ vị trí 86/193 quốc gia trong các kỳ khảo sát trước lên vị trí 71/193 trong Báo cáo năm 2024, lần đầu tiên được xếp vào nhóm quốc gia có mức phát triển “rất cao”. Đây là sự ghi nhận quốc tế đối với nỗ lực mở rộng hạ tầng viễn thông, phát triển dịch vụ công trực tuyến, đầu tư các nền tảng dữ liệu và hệ thống thông tin dùng chung.

Cổng Dịch vụ công quốc gia đã trở thành “điểm truy cập một cửa” cho người dân, doanh nghiệp, với hàng nghìn thủ tục hành chính được tích hợp, trong đó tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình liên tục tăng qua các năm. Nhiều báo cáo cho thấy đến năm 2024 đã có trên 4.400 thủ tục được cung cấp trên Cổng, chiếm hơn 70% tổng số thủ tục hành chính, số lượt truy cập, xử lý hồ sơ trực tuyến tăng mạnh; từ tháng 7/2024, người dân có thể dùng ứng dụng VNeID để đăng nhập và sử dụng dịch vụ công, tạo thuận lợi lớn cho trải nghiệm người dùng.

Về hạ tầng số, mạng băng rộng cáp quang đã phủ tới hầu hết các xã, phường; các nhà mạng đẩy nhanh triển khai 5G tại các đô thị lớn; năng lực trung tâm dữ liệu và điện toán đám mây trong nước được tăng cường, chuẩn bị nền tảng cho các ứng dụng trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu lớn.

Về kinh tế số, nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ trọng kinh tế số trong GDP tăng nhanh cả về quy mô và tỷ lệ. Một số báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông và các tổ chức nghiên cứu độc lập cho thấy kinh tế số đã tăng từ khoảng 12% GDP năm 2020 lên khoảng 16,5% năm 2023, tiếp tục chạm ngưỡng 18%–19% năm 2024, tốc độ tăng trưởng trên 20%/năm – cao gấp nhiều lần tốc độ tăng trưởng GDP bình quân và được đánh giá là tốc độ nhanh nhất khu vực Đông Nam Á.

Những kết quả này không chỉ phản ánh quá trình thực hiện Quyết định 749/QĐ-TTg mà còn là minh chứng cho nỗ lực của cả hệ thống chính trị trong việc triển khai đồng bộ các nghị quyết, chỉ thị, chương trình hành động về chuyển đổi số.

Chuyển đổi số đi vào đời sống: những câu chuyện cụ thể

Điểm đáng chú ý của Chương trình Chuyển đổi số quốc gia là nhấn mạnh “Công nghệ vì con người, vì hiệu quả”, tức mọi giải pháp số cuối cùng phải mang lại lợi ích cụ thể, dễ nhận thấy cho từng người dân, từng doanh nghiệp.

Điều này được thể hiện rõ qua nhiều mô hình, câu chuyện thực tiễn:

(1) Mô hình dịch vụ công liên thông “3 trong 1”

Thủ tục hành chính “Đăng ký khai sinh – Đăng ký thường trú – Cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi” đã được triển khai theo hình thức dịch vụ công trực tuyến liên thông “3 trong 1” trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Cha/mẹ chỉ cần kê khai một lần trên môi trường điện tử, dữ liệu được các cơ quan tư pháp – hộ tịch, công an, bảo hiểm xã hội chia sẻ để giải quyết đồng bộ, thời gian cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ được rút xuống tối đa 2 ngày làm việc.

Nhiều địa phương đã triển khai mạnh mẽ mô hình này, trong đó có các quận, huyện ở Hà Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ…, hàng chục nghìn thủ tục đã được giải quyết theo hình thức liên thông, giúp người dân không phải đi lại nhiều lần như trước đây.

(2) “Ngồi nhà ủng hộ nông sản Việt” – thương mại số gắn với nông nghiệp

Năm 2020, chương trình “Ủng hộ nông sản Việt” trên ví điện tử MoMo, phối hợp với Báo Tuổi Trẻ và Saigon Co.op, đã mở ra cách làm mới trong tiêu thụ nông sản: người dân có thể đặt mua vải thiều Lục Ngạn, gạo đặc sản… ngay trên điện thoại, vừa ủng hộ nông sản Việt, vừa hưởng lợi về giá nhờ giảm chi phí trung gian.

Các báo cáo cho biết, chỉ riêng kênh tiêu thụ vải thiều Lục Ngạn qua ví điện tử đã cung cấp hơn 30 tấn quả cho thị trường TP. Hồ Chí Minh trong vài tuần, góp phần hỗ trợ nông dân trong giai đoạn dịch bệnh khó khăn, đồng thời giúp người tiêu dùng quen dần với mô hình mua sắm trực tuyến, thanh toán không tiền mặt. Đây là ví dụ sinh động về mục tiêu phát triển xã hội số, thúc đẩy thương mại điện tử nông sản, gắn lợi ích chuyển đổi số với đời sống nông thôn.

(3) Doanh nghiệp số – “xương sống” của kinh tế số

Hưởng ứng Chỉ thị 01/CT-TTg về phát triển doanh nghiệp công nghệ số, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã chủ động đầu tư, phát triển nền tảng, sản phẩm số “Make in Viet Nam”. Trong lĩnh vực logistics, giải pháp Asia Enterprise do Asiasoft phát triển là một ví dụ điển hình: hệ thống ứng dụng trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu thời gian thực để tối ưu hóa tuyến đường, quản lý kho, theo dõi đơn hàng, giúp cắt giảm chi phí nhiên liệu, rút ngắn thời gian giao hàng và nâng cao trải nghiệm khách hàng.

Các thông tin công bố cho thấy đã có hơn 10.000 doanh nghiệp trong nước sử dụng giải pháp này để từng bước chuyển đổi số hoạt động quản lý và vận hành chuỗi cung ứng. Đây là minh họa cụ thể cho mục tiêu hình thành các nền tảng số “đi cùng doanh nghiệp”, giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể “lên số” với chi phí phù hợp.

(4) Ứng dụng số trong y tế – Medpro và các nền tảng đặt lịch khám bệnh

Trong lĩnh vực y tế, các nền tảng như Medpro đã góp phần thay đổi thói quen đi khám bệnh của người dân. Medpro cho phép người dùng đặt lịch khám, thanh toán viện phí, nhận phiếu khám bệnh, quản lý lịch hẹn tái khám, tra cứu kết quả khám chữa bệnh trên điện thoại thông minh, giúp giảm đáng kể thời gian chờ đợi, hạn chế tình trạng xếp hàng từ sáng sớm tại bệnh viện.

Việc tích hợp Medpro vào các hệ sinh thái thanh toán số như Viettel Money càng mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế trực tuyến của người dân, phù hợp với định hướng phát triển xã hội số, y tế số mà Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đề ra.

Những ví dụ nêu trên cho thấy, chuyển đổi số theo Quyết định 749/QĐ-TTg không phải là khẩu hiệu trừu tượng, mà đã và đang hiện diện trong từng giao dịch cụ thể, từ thủ tục hành chính, mua sắm, vận chuyển hàng hóa đến khám chữa bệnh hằng ngày.

Một số yêu cầu, nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn tới

Mặc dù đạt nhiều kết quả quan trọng, quá trình triển khai Chương trình Chuyển đổi số quốc gia vẫn đối mặt không ít thách thức: khoảng cách số giữa các vùng, miền; nguy cơ mất an toàn, an ninh mạng; thiếu hụt nhân lực số chất lượng cao; thói quen làm việc giấy tờ còn phổ biến; một bộ phận người dân, doanh nghiệp chưa thực sự tin tưởng và sử dụng thường xuyên dịch vụ số.

Vì vậy, để đạt được các mục tiêu đến năm 2025 và định hướng 2030, cần tập trung một số nhiệm vụ lớn:

  • Tiếp tục hoàn thiện thể chế cho chuyển đổi số, trong đó chú trọng luật hóa các quy định về dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước và với khu vực tư; khuyến khích mô hình hợp tác công – tư trong phát triển hạ tầng và nền tảng số.
  • Đẩy nhanh phổ cập hạ tầng số và kỹ năng số, bảo đảm hạ tầng số đến từng hộ gia đình, trường học, cơ sở y tế; đào tạo kỹ năng số cơ bản cho người dân, nhất là nhóm yếu thế, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.
  • Tăng tốc phát triển kinh tế số, với trọng tâm là hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số, mở rộng thương mại điện tử, tài chính số, nông nghiệp số; thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong các lĩnh vực ưu tiên.
  • Tiếp tục nâng cao chất lượng Chính phủ số, đơn giản hóa, số hóa triệt để quy trình thủ tục hành chính; thiết kế dịch vụ công “lấy người dùng làm trung tâm”; phát triển các nền tảng điều hành, phân tích dữ liệu phục vụ chỉ đạo, điều hành theo thời gian thực từ Trung ương đến địa phương.

Chỉ khi giải được đồng bộ những bài toán này, Việt Nam mới có thể hiện thực hóa tầm nhìn trở thành “quốc gia số, ổn định và thịnh vượng” như Quyết định 749/QĐ-TTg đã đề ra.

Tổng kết, Chương trình Chuyển đổi số quốc gia theo Quyết định 749/QĐ-TTg là bước ngoặt chiến lược, đưa chuyển đổi số trở thành một chương trình hành động tổng thể, gắn kết giữa Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Sau hơn 4 năm triển khai, những kết quả về thứ hạng Chính phủ điện tử, tỷ trọng kinh tế số trong GDP, mức độ phát triển hạ tầng số và các mô hình thực tiễn trong dịch vụ công, thương mại, logistics, y tế… cho thấy hướng đi của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với xu thế thời đại.

Tuy nhiên, hành trình xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia số đến năm 2030 còn nhiều việc phải làm. Chuyển đổi số chỉ thành công khi trở thành phong trào tự giác của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và từng người dân; khi mỗi cơ quan nhà nước chủ động đổi mới phương thức quản trị; mỗi doanh nghiệp dám đầu tư cho công nghệ và nhân lực số; mỗi người dân sẵn sàng học tập, trải nghiệm, sử dụng dịch vụ số an toàn, thông minh.

Với quyết tâm chính trị cao, sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, các ngành và sự hưởng ứng tích cực của cộng đồng doanh nghiệp, người dân, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng rằng, mục tiêu “Việt Nam trở thành quốc gia số, ổn định và thịnh vượng” sẽ trở thành hiện thực, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên số.

 

Người thực hiện

Trần Thị Thùy Dương

Trung tâm Công nghệ - Chính phủ số, Cục Chuyển đổi số quốc gia

Nguồn và tài liệu tham khảo:

  1. Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.
  2. Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
  3. Nghị quyết số 50/NQ-CP ngày 17/4/2020 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 52-NQ/TW.
  4. Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 14/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ về thúc đẩy phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam.
  5. Cổng thông tin Chuyển đổi số quốc gia (dx.gov.vn) – Giới thiệu Chương trình Chuyển đổi số quốc gia và Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số.
  6. Các báo cáo, bài viết về chuyển đổi số, kinh tế số, Chính phủ số và EGDI của Việt Nam: Bộ KH&CN, Bộ TT&TT, Tổng cục Thống kê, UN E-Government Survey, Vietnam Government Portal, VnEconomy, v.v.
  7. Các bài báo, tin bài về mô hình dịch vụ công liên thông “3 trong 1”, chương trình “Ủng hộ nông sản Việt” trên ví MoMo, giải pháp AI logistics Asia Enterprise, nền tảng Medpro và các ứng dụng y tế số khác.

 

 

 

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập: 441
    • Khách Khách 441
    • Thành viên Thành viên 0
    • Tổng lượt truy cập Tổng
    • Tổng số lượt truy cập: 5547182